Showing posts with label 09 - Bệnh thuộc gan. Show all posts
Showing posts with label 09 - Bệnh thuộc gan. Show all posts

Monday, January 3, 2011

Bệnh phong chạy

Kính gửi thầy Ngọc,

Thưa thầy, một buổi sáng tôi thức dậy, đột nhiên thấy cổ tay phải rất đau nhức. Đau ở xương chứ không phải ở bắp thịt. Chỗ đau có hơi xưng và da ở chỗ đó bóng. Đau nhất ở các huyệt Thái Uyên, Kinh Cừ, Liệt Khuyết, Dương Khê. Hai huyệt Khúc Trì và Xích Trạch cũng rất đau.

Mấy ngày gần đây tôi thấy bắp thịt ở cánh tay phải cứng lại và tôi thấy đau ở vai và cổ bên phải, và những nơi tôi bị zona trước kia lại đau. Không biết cái đau ở cổ tay có phải do vi khuẩn của zona không, và biến cổ tay bị rhumatisme.

Kính nhờ thầy giúp và nếu có thể chỉ cách tập khí công sao cho bớt đau.
Thành thật cám ơn thầy.

Bích Ngọc

Trả lời :

Ở Việt Nam thường gọi bệnh này là bệnh phong chạy vì nó đau trong ống xương cánh tay ngoài, không ở một chỗ nhất định. Nguyên nhân do tủy trong ống xương thiếu hoặc do phong là một loại áp lực khí đè ép trên xương ống xương có những chỗ bị xốp, áp lực khí càng tăng nên càng đau khi thời tiết lạnh, hay đổi mùa, đó cũng là máy đo thời thiết rất chính xác, thí dụ hôm nay tay đau nhức quá, thì ngày hôm sau thời tiết lạnh hơn, hôm nay bớt đau, ngày hôm sau thời tiết ấm áp, nếu chụp hình sẽ thấy trên mặt xương lấm chấm đen như trái chuối chín bị những chấm thâm đen.

Cách chữa là phải tạo những lỗ hở cho giảm áp lực khí ra ngoài bằng cách dùng kim châm thử tiểu đường châm và nặn máu những chỗ đau, rồi dùng túi vải kaki bọc muối rang nóng chườm vào chỗ đau, sau đó tập thể dục khí công bài Vỗ Tay 4 Nhịp để giúp máu lưu thông giảm bớt áp lực khí tích tụ vào một chỗ, lúc đó sẽ hết đau. Nếu cách này làm giảm đau có hiệu lực, thì tiếp tục làm mỗi ngày cho đến khi khỏi hẳn.

Muốn biết đã khỏi hết bệnh thì dùng máy đo áp huyết đo lại hai bên tay, phải giống nhau, và ở mức ổn định từ 120-135/80-90mmHg mạch tim đập 70-80 là tốt. Để duy trì phòng ngừa bệnh không bị tái phát, phải tập thể dục động công đều đặn mỗi ngày.

Tập theo những bài mới trong link này :

Những động tác mới trong bài tập thể dục khí công trong lớp ở Toronto
http://www.google.com/url?sa=D&q=http://video.yahoo.com/watch/4587803/12280727&usg=AFQjCNGf3-aiF2Zhehckj9cd2KuKVdeilA
Công dụng chữa bệnh của bài tập kéo đầu gối thở ra làm mềm bụng
http://www.google.com/url?sa=D&q=http://video.yahoo.com/watch/4588205/12281756&usg=AFQjCNFo0Ahf1wphkSxE8UIEn_xQKD6bCA
Công dụng chữa bệnh khác nhau của p.p.vuốt huyệt trên lưng lý luận
theo ngũ hành (Nhà thờ Bélanger, Montréal)
http://www.google.com/url?sa=D&q=http://video.yahoo.com/watch/4578652/12258569&usg=AFQjCNHEuxT94vjOsRgQrs2_yJd1K2KadA
Tập khí công thiền luyện hơi thở thu dương, thu âm. (Nhà thờ Bélanger,
Montréal)
http://video.yahoo.com/watch/4576597/12253721

Thân
doducngoc

Read More

Bệnh HEPATITE

So sánh 2 lần thử máu có kết quả thay đổi tốt của một nữ bệnh nhân tại Bệnh viện HMR :

1-Biochimie sang : Ngày thử 27/1/09 Ngày thử 28/4/0 Standard
Albumine 42 43 35-50 g/L
Bilirubine total 10 8 0-21 umol/L
ALT 26 21 0-40 U/L
Phosphatase Alcaline 95 107 5-125 U/L
LD 216 normal 105 – 215 U/L
Cholesterol 6.67 normal 3.2 – 4.15mmol/L
Triglycérides 1.85 normal 0.6 – 1.15mmol/L

2-Hormones :
Bilan thyroidien TSH 0.217 0.531 0.350-4,940 mU/L

3-Hématologie Générale :
ERCS 5.17 4.65 4 – 5.5x10e12/L
HB 144 131 118 – 158 g/L
HT 0.426 0.380 0.37 – 0.47 L/L
VGM 82.3 81.7 81 – 98 fL
TGMH 28 28.3 27 – 32 pg
CGMH 339 346 325 – 362 g/L
DVE 14.0 12.7 12 – 15 %
PLAQ 231 202 140 – 440x10e9/L
PCT 0.172 0.151 0.103 – 0.416 L/L
VPM 7.4 7.4 7 – 10 fL
DVP 16.2 16.0 15 – 17%
LEUCO 6.9 6.2 4.5 – 10.8x10e9/L
Neutro 0.556 0.474 0.42 – 0.72 v.rel
Éosino 0.003 0.013 0 – 0.05 v.rel
Baso 0.004 0.005 0 – 0.02 v.rel
Lympho 0.335 0.417 0.18 – 0.44 v.rel
Mono 0.102 0.092 0.01 – 0.09 v.rel
Neutro 3.8 2.9 1.8 – 7x10e9/L
Éosino 0.00 0.10 0.02 – 0.5 x10e9/L
Baso 0.00 0.00 0.00 – 0.15x10e9/L
Lympho 2.3 2.6 1.3 – 3.5 x10e9/L
Mono 0.70 0.60 0.1 – 0.8x10e9/L

4-Hématologie Spéciale :
AFP (Alpha Foetoprotéine) 2.6 2.5 0 - 15 ug/L

Trên đây là kết qủa thử nghiệm máu của một nữ bệnh nhân bị bệnh hépatite, tình trạng gan sưng cứng, đau 2 bên sườn, móng tay chân khô, mầu thâm đen, cơ thể suy nhược, được hướng dẫn bài tập khí công :
Cùng nhau luyện thuốc, giống như bài Tập kéo gối thở ra làm mền bụng, nhưng khác ở điểm, thầy chữa khí công dùng tay bấm vào những huyệt nội dược như Cưu Vĩ, Cự Khuyết, Trung Quản, Kiến Lý, Khí Hải, Kỳ Môn, Chương Môn, Quan Nguyên để cơ thể tạo ra thuốc phối hợp với khí huyết đang lưu chuyển cùng lúc khi đang tập khí công thời gian 200 lần kéo gối.

Các huyệt được bấm theo thứ tự mộc sinh hỏa, một bàn tay đặt trên gan, một tay bấm Cưu Vĩ và Cự Khuyết, sau 10-20 lần, sau đổi sang 2 huyệt Nhật Nguyệt để thông khí huyết trong gan, rồi từ hỏa sinh thổ, một bàn tay vẫn đặt trên gan để theo dõi sự cứng mềm của lá gan khi khí huyết chuyển động, một tay bấm huyệt Trung Quản, Kiến Lý trong khi bệnh nhân kéo gối được 20-30 lần nữa, rồi từ thổ sinh kim, bàn tay vẫn đặt trên lá gan, tay kia đặt 3 ngón, một ở huyệt Trung Quản, hai ngón kia đặt 2 bên rốn nơi huyệt Thiên Xu để rút xổ độc trong gan theo ra bằng đường đại tiện, khi bệnh nhân đang kéo gối thở ra làm mềm bụng, chúng ta và cả bệnh nhân nghe và cảm nhận được có chất lỏng chạy từ xương ức, từ gan xuống đường ruột, chất lỏng chảy ra là những chất nước, mỡ, huyết xấu có chứa độc tố, rồi từ kim sinh thủy, hai ngón tay bấm huyệt Thiên Xu, hai ngón tay bấm vào Âm Giao và Thủy Phân để chuyển hóa nước giúp thăng thanh giáng trọc…rồi bổ thận khí chuyển khí trung tiêu xuống hạ tiêu, bấm một tay vào huyệt Trung Quản, một tay và huyệt Khí Hải thời gian lâu cho đến khi bệnh nhân kéo gối hết đủ 100 lần hay 200 lần.

Tất cả những động tác tập thuộc phần động công, sau đó cho bệnh nhân cuốn lưõi ngậm miệng nghỉ thư giãn bằng phương pháp tĩnh công thiền, hai bàn tay, một đặt tại Đan Điền Thần, một đặt tại Đan Điền Tinh, nếu áp huyết thấp, cho ý trụ tại Đan Điền Thần, nếu áp huyết cao cho ý tập trung tại Đan Điền Tinh, theo dõi bụng phồng xẹp nơi trụ ý, chúng ta sẽ nghe chất lỏng trong gan tiếp tục chảy ra ngoài xuống ruột, sau khi tập tĩnh công 15 phút, sắc mặt sẽ hồng hào, bụng nhỏ lại, phía lá gan sờ vào thấy mềm và nhỏ, ấn đè vào lá gan không còn cứng và đau như trước.

Tập một tuần, khi đi đại tiểu tiện, nhận thấy nước tiểu đục hôi, phân ra mầu nâu hay xanh đen, thối khẳm, một hai ba tuần sau phân sẽ trở lại mầu vàng dẻo bình thường là bệnh gan đã thuyên giảm.

Bệnh nhân trên đây bắt đầu tập từ tháng 20/8/2009, bác sĩ báo cho biết nếu tình trạng xét nghiệm máu càng ngày càng xất sẽ phải tuân thủ cách chữa định kỳ chích thuốc chữa Hépatite C, nếu kết qủa tốt hơn thì không cần điều trị. Bà cho biết bác sĩ nhìn qua máy xét nghiệm số virus trong gan lên đến 1.7 triệu.

Sau khi xét nghiệm máu có kết qủa thay đổi như trên, nhưng bà vui mừng hơn khi bác sĩ báo cho biết virus trong gan đã giảm xuống còn 1.2 triệu, nên không cần phải chích thuốc điều trị hépatite C. Riêng đối với bà, bà nhân thấy bài tập khí công kéo gối thở mềm bụng và tập thiền có nhiều kết qủa, gan mềm nhỏ lại, hai bên sườn không đau, da dẻ sắc mặt hồng hào, ăn ngủ ngon, đi cầu ra phân vàng tốt, không còn bị chóng mặt xây xẩm hay mệt mỏi nữa. Bà hy vọng tập đều để căn bệnh của bà được khỏi hẳn hoàn toàn.

Read More

Cách tập thở chữa bệnh gan mật

Cách chữa bằng huyệt :
1-Nằm ngửa, cơ thể thư giãn, đường thẳng từ xương ức đến rốn chia làm 8 điểm, tính từ dưới mỏm xương ức là điểm thứ nhất tên huyệt Cưu vĩ, điểm thứ hai là huyệt Cự khuyết, điểm thứ ba là huyệt Thượng quản, điểm thứ tư là huyệt Trung quản, điểm thứ năm là huyệt Kiến lý, điểm thứ sáu là huyệt Hạ quản, điểm thứ bẩy là huyệt Thủy phân, điểm giữa rốn là huyệt Thần khuyết.

Khi trong người cảm thấy mệt mỏi mất sức ăn uống không tiêu, đặt 3 ngón tay đè trên 3 huyệt Thượng quản, Trung quản, Kiến lý.
Muốn cho gan mật hoạt động tốt trở laị bình thường, làm tan xẹp khối u, đặt 3 ngón tay lên Cưu vĩ, Cự khuyết, Thượng quản.
Muốn cho tiêu hóa và chuyển hóa thức ăn nhanh, đi cầu dễ, đặt 3 ngón tay trên huyệt Kiến lý, Hạ quản, Thủy phân.

Cách tập thở (tĩnh công).

Sau khi chọn huyệt, đặt 3 ngón tay xong, lấy bàn tay kia đè lên 3 ngón tay ấn vào huyệt, dùng hai gối kê bên hai bên hông để đỡ hai cùi chỏ cho thoải mái khi nằm. Bắt đầu tập thở ra nhẹ, đều, dài, lâu, 3 ngón tay ấn nhẹ cho bụng mềm lún xuống theo hơi thở ra. Khi hít vào thì từ từ chậm, nhẹ, lại tiếp tục thở ra cho bụng mềm lún xuống. Mỗi lần tập khoảng 200 hơi thở như thế, một ngày có thể tập nhiều lần, sẽ có những biến đổi như sau là tập đúng :
Nghe tiếng bụng sôi, nghe và cảm nhận có cái gì ở gan chạy xuống bụng dưới , đó là máu, mủ và chất nước độc tích lũy trong gan thoát ra ngoài, đi cầu dễ, phân thối mầu xanh hoăc đen nâu, bụng mềm, gan nhỏ lại, bướu teo dần, sắc mặt bớt vàng hoặc bớt xanh, từ từ da thịt hồng hào.

Tập động công :

Cúi ngửa 2 nhịp, cúi ngửa 4 nhịp, vặn mình hai nhịp, vặn mình 4 nhịp, xem trong DVD bài giảng và tập trong website doducngoc.com
Cuối tuần uống Phan tả diệp để tẩy độc trong gan, có giải thích trong forum trên website doducngoc.org
Kiêng ăn những chất chua, cay, kiêng ăn nhiều thịt sẽ không tiêu, nên ăn cá, rau. Dân gian VN ăn khoai lang nướng đinh, vừa dễ tiêu vừa làm tan bướu. Đặt 3-4 củ khoai lang đỏ, nhỏ, vào trong lò nướng nhỏ, trên khay nhôm của lò, người ta mua chừng 10 cây đinh dài to hơn 10cm, đặt vào khay, rồi xếp khoai lên trên, nướng như bình thường đến khi khoai chín, lột vỏ ra ăn, có mùi thơm ngon đặc biệt.
Ăn khoai nướng đinh dùng để chữa các loại bướu có kết qủa lắm. Người không có bệnh, ăn khoai nướng đinh để ngừa bệnh.

Read More

Bệnh mắt bị chớp nháy liên tục

Theo đông y, gan khai khiếu ở mắt, gan chỉ huy gân cơ và các sợi thần kinh, gan chứa máu, gan thuộc phong như vậy đối chứng trị liệu là phải tả can phong bổ tỳ. Theo biến chứng truyền kinh, can mộc thực, thay vì mẹ can mộc phải nuôi con là tâm hỏa thì tâm cũng phải thực sẽ có dấu hiệu mắt đỏ, nhưng mắt bệnh nhân không đỏ, thì can mộc sẽ khắc tỳ thổ, cho nên cần bổ tỳ cho mạnh để can sẽ không khắc được, ngược lại tỳ thổ mạnh sẽ nuôi phế kim để bảo vệ da lông không cho phong tà bên ngoài xâm nhập cơ thể

Tôi hỏi mắt cô bị dựt lâu mau rồi. Cô trả lời đã bị mấy năm rồi, lúc trước dựt ít bây giờ chớp dựt liên tục, có đi châm cứu, đi khám mắt, uống thuốc tây mà không bớt, họ nói là do dây thần kinh, thầy có chữa được không ?

Xưa kia bệnh mắt bị chớp giựt thường là mấy cụ bà ở nhà quê bị bệnh lông quặm mọc trong mí mắt làm mắt bị ngứa đỏ phải nhờ con cháu nhổ ra cho bớt ngứa bớt giựt. Tôi xem mắt của cô không bị đỏ, cô nói mắt của cô không bị ngứa. Nhưng thông thường, mắt của một người bình thường có thể chăm chú nhìn vào một vật lâu từ 6 đến 10 giây đồng hồ mới chớp mắt một lần, riêng mắt của cô mỗi giây chớp dựt 2-3 lần .Tôi nói mắt cô giựt liên tục như vậy làm sao cô đọc sách được. Cô nói con cố tập trung để đọc sách cho đỡ bị giựt thôi chứ con có đọc được chữ nào đâu .

Theo đông y, gan khai khiếu ở mắt, gan chỉ huy gân cơ và các sợi thần kinh, gan chứa máu, gan thuộc phong như vậy đối chứng trị liệu là phải tả can phong bổ tỳ. Theo biến chứng truyền kinh, can mộc thực, thay vì mẹ can mộc phải nuôi con là tâm hỏa thì tâm cũng phải thực sẽ có dấu hiệu mắt đỏ, nhưng mắt bệnh nhân không đỏ, thì can mộc sẽ khắc tỳ thổ, cho nên cần bổ tỳ cho mạnh để can sẽ không khắc được, ngược lại tỳ thổ mạnh sẽ nuôi phế kim để bảo vệ da lông không cho phong tà bên ngoài xâm nhập cơ thể, và bên trong cơ thể phế kim mạnh sẽ khắc trị được can mộc, thần kinh gân cơ sẽ được thoải mái làm cho mắt bớt bị giựt.

1-Bổ Tỳ bằng cách vuốt vòng chân khí Tỳ :

Bệnh nhân nằm úp, vuốt từ tỳ du lên Can du, từ Can du về Tỳ du, từ Tỳ du lên Tâm du, từ Tâm du xuống Thận du, từ Thận du lên Phế du, từ Phế du về Tỳ du, mỗ đoạn vuốt 6 lần dùng huyết bổ khí , rồi day xả ở huyệt Đại đô phải.

2-Tập đông công Bài Vỗ tay 4 nhịp tăng cường phế khí, vệ khí .

3-Tả can bằng nấu nước xông : 1 gói lá Tía Tô, 1 gói lá Kinh Giới nấu với 2 lít nước cho sôi, lấy 1 ly ra để khi xông xong thì uống, còn nồi nước xông đặt trên bàn thấp, ngồi trùm kín đầu bằng khăn lông lớn hay tấm nylon kín, cho hơi nước thuốc xông hơi lên mặt, mắt chừng 30 phút, khi nước nguội ,dùng xác lá tía tô, kinh giới lau rửa mắt mặt . Mỗi ngày làm 2 lần, làm trong 3-7 ngày cho đến khi khỏi bệnh .

Một tuần lễ sau, cô trở lại tái khám, cô khen công dụng của lá Tía Tô, Kinh Giới qúa hay, Cô nói bây giờ mắt của con hết bị dựt rồi , bây giờ con đi ra ngoài đường không cần phải đeo kính che măt nữa .

Read More

Một bệnh nhân bị bệnh viêm gan C

1-Đo áp huyết tay trái 114/70mmHg mạch 69, tay phải 121/72mmHg mạch 60, chứng tỏ gan thuộc hư chứng, kém hoạt động, không trao đổi được oxy cho máu.

2-Theo lý thuyết đông y khí công, gan chứa máu (tàng huyết), dù ăn uống những chất tạo máu và bổ máu, nhưng gan là nhà kho bị hư hỏng ẩm mốc sẽ làm hỏng máu, thành phần máu đỏ là Fe2O3, nhưng nhà kho là gan thiếu oxy, máu sẽ mất oxy trở thành máu đen Fe2O2, do đó nhìn da đã nổi những nốt thâm đen đó là âm hư, nhưng may mắn trên lưng thuộc dương, sắc da lưng còn tươi sáng không có vết thâm da, dương khí còn mạnh, chỉ thiếu âm chất, cần dùng Đương Quy Tửu.

3-Vùng gan bị cứng không chuyển động theo hơi thở, bệnh nhân được vuốt bụng theo hơi thở để làm mềm bụng giúp bệnh nhân thở dễ, tăng hồng cầu, tống độc trong gan bài tiết ra ngoài, hướng dẫn Tập Nạp Khí Trung Tiêu, Vỗ Tay 4 Nhịp, Cúi Ngửa 4 Nhịp, nằm tập thở Đan Điền Thần.

4-Một tuần sau, bệnh nhân cho biết hết đau vùng gan, hông sườn, dễ thở, ăn ngủ ngon, tiêu hóa tốt sắc mặt hồng hào.
5-Bênh nhân từ Cali sang 2 tuần lễ để học phương pháp tự chữa bệnh bằng khí công và đã trở về Cali.

clip_image002

clip_image004

clip_image006

clip_image008

clip_image010

clip_image012

Read More

Bệnh co rút gân do virus từ thịt gà nấu chưa chin

Anh Ngọc thân,
Anh C. người tôi giới thiệu, đã gặp Anh hôm trước ở Montreal, nay bệnh càng ngày càng nặng, chân đau nhức, thỉnh thỏang có những cơn đau đưa vào hai cánh tay. 5 tuần nay phải chống gậy, nay đi đứng rất khó khăn.
BS chuyên khoa nói rằng C. bị một căn bệnh rất hiếm: một lọai vi-trùng thường có trong thịt gà chưa được nấu chín, nó tấn công hệ thống miễn nhiễm (antibody) và hệ thống thần kinh. Nay hàng ngày vào bệnh viện họ truyền bạch-huyết-cầu và antbiotique.
Xin Anh cho một lời khuyên.
Anh C. có nhã ý mời Anh qua Vancouver giúp Anh C. và những bệnh nhân khác ở đây, Anh cho biết ngay nào có thể sắp xếp sang được, để chúng tôi giữ vé, nếu thu xếp sang được càng sớm thì rất tốt.
Kính Anh

Thân gửi Anh Dương

Theo cách chẩn bệnh của Khí Công Y Đạo. Chú ý đầu tiên là Khí, Huyết, thứ hai là Hư, Thực. Bốn yếu tố này làm ra bệnh, còn tây y tìm ra vi trùng chỉ là hậu qủa tất yếu phải có. Muốn biết khí huyết hư thực, cần phải có máy đo áp huyết 2 tay và 2 cổ chân. Tiêu chuẩn của khí công, áp huyết 2 tay 120-130/80-90mmHg mạch 70-80 và 2 chân 140-150/80/90mmHg mạch 80-90 là lý tưởng. Nhưng khi có bệnh thì các con số ở 2 tay 2 chân khác nhau.

Theo kinh nghiệm của nữ bác sĩ Janine Fontaine, là bác sĩ gây mê và chuyên nghiên cứu về năng lượng cơ thể, con người có 3 cơ thể cần phải có 3 loại thuốc để chữa. Cơ thể thứ nhất là cơ thể vật chất có thể xét nghiệm để thấy được nguyên do bệnh, cơ thể thứ hai là cơ thể năng lượng và cơ thể thứ ba là cơ thể tinh thần không thể nhìn thấy được. Riêng bà chuyên nghiên cứu về năng lượng trong cơ thể, bà đã thử nghiệm với một bệnh nhân thanh niên bị tình trạng hôn mê (coma) đã 3 ngày mà không tỉnh, về cơ thể vật chất qua xét nghiệm đều tốt không bệnh tật, kể cả thần kinh não bộ, nhưng tại sao không tỉnh. Bà nghĩ rằng cơ thể thứ hai thiếu năng lượng, bà tiến hành thử nghiệm chích 3 ống thuốc Glucose vào tĩnh mạch. Sau mũi thứ nhất, hơi thở của bệnh nhân được mạnh hơn, đến mũi thứ hai, bệnh nhân mở mắt, đến mũi thứ ba bệnh nhân bực bội giận giữ ngồi dậy khi biết mình đang ở nhà thương. Bà đã thử nghiệm thành công khi áp dụng phương pháp làm tăng năng lượng này cho cho các bệnh nhân hôn mê khác khi nhận thấy các tế bào suy thoái do thiếu chất B1, glucose hay cocarboxylase.

Bệnh của Anh Cầm giống như trên, các tế bào thoái hóa do thiếu máu, áp huyết thấp (thiếu khí trong cơ thể vì không tập luyện khí công)

Cần uống thuốc bổ máu TANKWE GIN (Đương Quy Tửu, xem trên Trang Nhà Khí Công) khoảng 20 chai, giúp thêm năng lượng cho tế bào bị thoái hóa, nằm thở thiền là cơ thể tinh thần, tập động công làm mạnh cơ thể vật chất.

Đây là loại bệnh mãn tính cần nhiều thời gian tập luyện và dùng thuốc Đương Quy Tửu, cho nên không cần đến sự cấp cứu của tôi, mỗi ngày dùng máy đo áp huyết theo dõi cơ thể năng lượng được mạnh hơn xưa không, thí dụ trước khi chưa uống thuốc và chưa tập, áp huyết đo được 105/65mmHg mạch 70, uống thuốc cho đến khi nào áp huyết 2 tay hai chân lọt vào tiêu chuẩn của khí công, thì bệnh sẽ khỏi.

Nếu chưa có máy đo áp huyết, và máy đo lượng đường thì cần phải mua để theo dõi sự tiến triển tốt xấu của bệnh mỗi ngày.Kiêng không được ăn uống những chất chua làm phá máu và mất năng lượng.

Có một trường hợp tương tự, một nam bệnh nhân cũ của tôi về Việt Nam dự định ăn chơi 1 tháng, nhưng một tuần sau phải trở lại Canada gấp, tự nhiên cơ thể đau nhức, gân cơ co rút rất nhanh, làm cong vẹo cột sống lưng, rút gân tay chân đi lại rất đau. Tôi hỏi anh ta về VN có ăn những món thịt nào còn tái không, anh trả lời có ăn những thịt tái như gà, dê…nên anh cũng bị loại virus độc tương tự ăn vào những tế bào máu, bắp chân một bên cứng chắc, một bên mền và đau như có gì cắn xé những thớ thịt bên trong.

Sau khi điều chỉnh kinh mạch, đo áp lực chân tay, điều chỉnh cơ thể physique, lưng ngay thẳng trở lại, anh phải dùng Đương quy tửu (Tankwe Gin) để điều chỉnh cơ thể năng lượng, bổ sung máu nuôi gân cơ, ngay ngày đầu anh uống 1 ngày 1 chai, anh thấy bớt, các ngày sau 2 ngày 1 chai. Loại virus này làm teo gân cơ từ từ, anh phải dùng thêm thuốc bắc :

Xuyên quy 5 chỉ
Sinh địa 4 chỉ
Bạch truật, Độc hoạt, Đỗ trọng, Bạch linh, Ngưu tất, Phòng phong. Bạch thược, Quế chi, Trần bì mỗi thứ 3chỉ
Tần giao, Tế tân, Sâm Hoa kỳ, Thỏ ty tử, Câu kỷ tử, Phòng kỷ mỗi thứ 2 chỉ
Điều thảo 1chỉ
Đại táo 5 qủa.

Sắc 4 chén cạn còn 1 chén ,có thể sắc lần 2
Bệnh nặng sắc uống, bệnh nhẹ ngâm rượu uống .
Người gầy yếu thêm 2 chỉ lộc nhung

Toa thuốc này chuy ên trị phong thấp, gai cột sống, lưng còng , gân cơ co rút….

Trường hợp này có thể làm tài liệu tham khảo, xin anh chuyển cho anh C.
Tôi hy vọng trong tương lai sẽ có dịp thuận tiện đi Vancouver một chuyến.
Thân

Trước khi điều chỉnh, áp lực chân phải tốt, áp lực chân trái yếu, lưng co rút, không đưa tay ra sau được.

clip_image002

clip_image004

clip_image006

clip_image008

Sau khi điều chỉnh lần đầu tiên, bệnh nhân đứng thẳng lưng được mà không đau.

clip_image010

Read More

Bệnh Mal Formation Arnold Chiari (CMs)

Dị tật Chiari là gì?

Chiari dị tật (CMs=Chiari Mal Formations) là những khuyết tật cấu trúc trong tiểu não, phần của não kiểm soát sự cân bằng. Khi khoảng hở xương cổ có rãnh thấp hơn phía sau của đầu sọ nhỏ hơn so với bình thường, tiểu não và brainstem (phần đuôi não) có thể bị đẩy tuột xuống dưới, kết quả là sức ép trên tiểu não có thể ngăn chặn luồng dịch não-tủy (chất lỏng chung quanh bảo vệ não và tủy sống) và có thể gây ra những triệu chứng bao gồm sự choáng váng, sự yếu kém bắp thịt, sự tê cứng, yếu thị lực, bệnh nhức đầu, và những vấn đề rối loạn thăng bằng.

Bình thường tiểu não và những phần đuôi não cùng trong một khoang tại phía sau thấp hơn đầu sọ, ở trên mở giống như phễu xuống tới ống tủy sống. Dị tật này xuất hiện trong thời gian sự phát triển thai nhi và được đặc trưng bởi chuyển dịch của những hạnh nhân tiểu não ở dưới lỗ cổ chai hơn bốn milimet, vào trong ống tủy sống viêm mạch bạch huyết cổ. Khi phần của tiểu não được định vị ở dưới lỗ phễu, nó được gọi là một dị tật Chiari (CMS), có thể phát triển khi phần đuôi não nhỏ hơn bình thường, làm cho bị chảy máu não (cerebellum) và phần đuôi não (brainstem) sẽ được đẩy xuống vào ống lỗ lớn foramen Magnum) và vào cột sống trên kênh. Những áp lực trên cerebellum và brainstem có thể ảnh hưởng đến chức năng kiểm soát của các khu vực và chặn dòng chảy của chất lỏng não tủy cerebrospinal (CSF) - những chất lỏng chung quanh và chất đệm (cushions) não và dây cột sống - đến từ não bộ.

Sự chuyển dịch này có thể ngăn chặn những tiếng đập bình thường (của) CSF giữa ống tủy sống và không gian ở trong sọ. Dạng dị tật Chiari này có thể liên quan đến bệnh rỗng tủy sống hay tích dịch ống nội tủy. Bệnh này thường khám thấy những ở người tuổi vị thành niên hay những người lớn

Cái gì gây ra những dị tật này?

CM có vài nguyên nhân khác. Nó có thể gây ra bởi những khuyết tật cấu trúc trong não và tủy sống mà xuất hiện trong thời gian sự phát triển thai nhi, gây ra bởi những thay đổi di truyền học hay những thiếu vitamin thích hợp hay những chất dinh dưỡng trong sự ăn kiêng của người mẹ. Bệnh này được gọi là CM sơ cấp hay bẩm sinh. Nó cũng có thể gây ra sau đó trong cuộc sống nếu chất lỏng xương sống được rút kiệt quá mức từ những vùng ngang lưng hay ngực của xương sống hay vì vết thương làm hở đốt sống nhiễm những chất có hại, hay sự truyền nhiễm. Trường hợp này được gọi là CM tập nhiễm hay CM thứ nhì. CM Sơ cấp thường bị nhiều hơn CM thứ nhì.

CMs được phân loại như thế nào?

CMs được phân loại bằng những sự mất trật tự và phần của não kéo xuống vào trong ống tủy sống. Loại I- bao gồm mở rộng của những hạnh nhân tiểu não, phần thấp hơn của tiểu não chuyển dịch vào trong lỗ phễu chai, không có việc bao gồm phần cuống não brainstem. Bình thường, chỉ tủy sống đi qua xuyên qua sự mở này.

Có ba loại chính của CM. Các Loại phổ biến nhất là

Loại I, mà có thể không gây ra các triệu chứng và thường được tìm thấy trong quá trình kiểm tra cho từ các bệnh khác. Loại I - đó có thể không gây ra các triệu chứng - là hình thức phổ biến nhất của CM và thường là lần đầu tiên nhận thấy trong độ tuổi vị thành niên hay lớn.

Loại II (còn gọi là Arnold-Chiari malformation) thường được kèm theo một myelomeningocele (một khuyết tật bẩm sinh của hệ thần kinh TW mà trong đó giống như một túi xắc chứa đựng phần tủy sống và màng não kéo ra xuyên qua một lỗ hổng trong cột sống, thường xuyên do bởi bệnh tràn dịch não và chậm tâm thần -một hình thức Spina bifida (=một khuyết tật bẩm sinh không khác thường trong đó một đốt xương sống hình thù kỳ quái trừ phi vài đốt xương sống được ảnh hưởng hay có thoát vị tủy-màng tủy ở đó là vài triệu chứng; có thể được chẩn đoán bởi (thủ thuật) chọc màng ối qua bụng) xảy ra khi cột sống xương lưng không đóng kín trước khi sinh, gây ra các dây cột sống nhô ra để thông qua một trong các đốt xương lưng khác. Điều này có thể gây ra tê liệt một phần hoặc hoàn toàn tê liệt (paralysis) khi dưới cột sống bị mở lỗ. Loại II, cũng được gọi là cổ điển CM, liên quan đến việc mở rộng của cả hai cerebellar và mô brainstem vào phễu lớn foramen Magnum. Ngoài ra, các cerebellar vermis (các tế bào thần kinh kết nối hai nửa của cerebellum) có thể một phần hoặc hoàn toàn vắng mặt. Kiểu II thông thường được kèm theo bởi một thoát vị tủy-màng tủy. Một dạng tật nứt đốt sống xuất hiện khi ống tủy sống và xương sống không đóng trước khi sinh ra, gây ra tủy sống và màng bảo vệ của nó kéo ra xuyên qua một lỗ mở giống như túi xắc trong mặt sau. Một thoát vị tủy-màng tủy thông thường dẫn đến chứng liệt từng phần hay đầy đủ của vùng ở dưới sự hở lỗ xương sống. Thuật ngữ Arnold- Chiari dị tật đặc biệt để gọi cho loại II này.

Kiểu III là loại đặc biệt nhất của CM, và gây ra những khuyết tật thần kinh học khốc liệt. Những điều kiện khác đôi khi có liên hệ với CM bao gồm bệnh tràn dịch não, bệnh rỗng tủy sống và uốn cong xương sống. Loại III là hầu hết các hình thức nghiêm trọng của CM. Sự chảy máu não (cerebellum) và tụt phần đuôi não (brainstem protrude), hoặc thoát vị (herniate), thông qua lỗ cổ chai (foramen Magnum) vào dây cột sống. Một phần của bộ não và não thất (ventricle), một lô kết nối trên các phần của não bộ và sự chuyển dịch này có thể ngăn chặn những tiếng đập bình thường (của CSF) giữa ống tủy sống và không gian ở trong sọ não, cũng có thể thông qua các lỗ nhô ra vào cột sống và dây thần kinh. Trong trường hợp hiếm hoi, các herniated cerebellar tế bào có thể gây ra sự nhô ra (của) mô não xuyên qua một khe bẩm sinh dưới chẩm (occipital encephalocele), một túi nhỏ -như cấu trúc mà các lỗ nhô ra trên mặt sau của phần đầu hoặc cổ và não bộ có chứa vật chất. Sự bao phủ của não hay tủy sống có thể cũng kéo ra xuyên qua một sự mở dị thường trong mặt sau đầu sọ. Kiểu III gây ra những khuyết tật thần kinh học khốc liệt. .
Kiểu IV bao gồm một tiểu não không đầy đủ hay chưa phát triển. Một điều kiện được biết đến như sự suy sản tiểu não. Trong dạng hiếm có này của CM, những hạnh nhân tiểu não được định vị tụt sâu hơn nữa xuống ống tủy sống, những phần của tiểu não thiếu, và những phần đầu sọ và tủy sống có thể to rõ ràng

Một hình thức của các rối loạn, theo cuộc tranh luận của một số nhà khoa học, là Loại 0, trong đó không có phần nhô ra của não qua lỗ cổ chai, nhưng nhức đầu và các triệu chứng của CM có mặt.

Những triệu chứng của một Chiari malformation?

Nhiều người có CM Loại I không có triệu chứng và có thể không biết rằng họ có bệnh. Bệnh nhân với các loại CM theo năm tháng gây ra đau nhức cổ, mất thăng bằng, cơ bắp suy nhược, tê cứng hoặc có dấu hiệu bất bình thường về cảm giác trong cánh tay hoặc chân, chóng mặt, nhìn mờ hoặc một thành hai, khó nuốt, hoặc ù tai, mất thính giác, nôn mửa, mất ngủ, trầm cảm, nhức đầu , ho hoặc căng thẳng. Tay có thể bị ảnh hưởng không làm việc được. Triệu chứng có thể thay đổi cho một số bệnh nhân, tùy thuộc vào sự cấu trúc của CSF giữa ống tủy sống và không gian ở trong sọ và kết quả áp lực trên các mô và thần kinh. Trẻ vị thành niên và người lớn đã có bệnh CM nhưng có thể không có triệu chứng ban đầu, sau này trong cuộc sống mới phát triển các dấu hiệu của sự rối loạn. Trẻ sơ sinh có thể có các triệu chứng từ bất kỳ loại CM nào và có thể gặp khó khăn nuốt khi cho ăn, chảy nhiều dãi, khóc yếu, nghẹn hoặc ói mửa, tay yếu, cứng cổ, hơi thở yếu, sự chậm phát triển, và không có khả năng tăng cân .

Những dấu hiệu liên quan đến dị tật Chiari ?

Những bệnh nhân CM thường có những dấu hiệu liên quan như bệnh tràn dịch não là một cấu tạo quá mức giữa ống tủy sống và không gian ở trong sọ não (CSF). Một CM có thể ngăn chặn dòng chảy bình thường của chất lỏng này, dẫn đến sức ép bên trong đầu có thể gây ra những khuyết tật tinh thần hoặc phát triển đầu sọ dị hình, bệnh tràn dịch não khốc liệt, nếu điều trị sai, có thể gây tử vong. Sự mất trật tự có thể xuất hiện với bất kỳ kiểu CM loại nào, nhưng thông thường nhất được liên quan đến Loại II
Tật nứt đốt sống là sự phát triển không đầy đủ của tủy sống. Những xương xung quanh tủy sống không hình thành đúng mức, để lại phần hở nhô ra chạm dây thần kinh dẫn tới liệt từng bộ phận hay liệt hoàn toàn. Những bệnh nhân với Loại II CM thông thường có một thoát vị tủy-màng tủy, một dạng tật nứt đốt sống trong những xương trong mặt sau và xương sống thấp hơn không hình thành đúng mức và trải dài ra khỏi mặt sau trong một sự mở giống như túi xắc

Bệnh rỗng tủy sống, hay tích dịch ống nội tủy, là một sự mất trật tự trong giữa ống tủy sống và không gian ở trong sọ não, như u nang có hình ống đầy, hoặc tràn dịch, biến dạng bên trong tủy sống. Tràn dịch đang gia tăng phá hủy trung tâm của tủy sống, dẫn đến sự đau, sự yếu kém và sự co cứng trong mặt sau đầu, vai, cánh tay, hay chân. Những triệu chứng khác có thể bao gồm những bệnh nhức đầu và một sự mất mát khả năng cảm giác nóng hay lạnh, đặc biệt nhất là ở bàn tay. Một số những bệnh nhân khác cũng bị đau cổ và cánh tay dữ dội.

Bệnh Cột giây (Tethered cord syndrome) xảy ra khi các cột sống dây gắn chính nó vào xương cột sống. Điều này gây ra rối loạn bất bình thường của các dây cột sống và có thể dẫn đến tổn thương vĩnh viễn đến các bắp thịt và thần kinh trong cơ thể và chân. Trẻ em có một myelomeningocele ( một khuyết tật bẩm sinh của hệ thần kinh TW mà trong đó một túi xắc chứa đựng phần tủy sống và màng não chảy ra xuyên qua một lỗ hổng trong cột sống; thường xuyên kéo theo bệnh tràn dịch não và chậm tâm thần) tăng nguy cơ phát triển bệnh cột giây (tethered cord) sau này trong cuộc sống.

Bệnh Cong vòng xương sống là bình thường trong số những bệnh nhân với bệnh rỗng tủy sống hay CM Lọại I. Hai kiểu uốn cong xương sống có thể xuất hiện phối hợp với CMs: như chứng vẹo xương sống, chứng uốn cong xương sống sang trái hoặc phải; và tật gù lưng, một tiền đạo cong xuống của xương sống. Uốn cong xương sống được nhìn thấy thường xuyên nhất trong con cái với CM, bộ xương đó đã hoàn toàn không phải trưởng thành

CMs có thể cũng có liên quan đến những hội chứng di truyền nhất định ảnh hưởng đến những sự bất thường và sự tăng trưởng thần kinh và xương mà sự hình thành xương mất trật tự do ảnh hưởng khác, như dòng chảy tủy sống của những đoạn xương trong cổ, và những nếp gấp trong não.

Làm thế nào khám phá ra bệnh Chiari malformations?

Trong quá khứ, ước tính rằng đã tìm ra trong khoảng 1/ 1.000 trẻ sơ sinh có bệnh. Tuy nhiên, việc gia tăng sử dụng các chẩn đoán bắng hình ảnh cho thấy CM có thể được khám phá ra nhiều hơn nữa. Dự đoán này là một thực tế, một số trẻ em được sinh ra với những dấu hiệu có thể không rõ ràng cho đến khi các triệu chứng thấy rõ ở những bệnh nhân tuổi vị thành niên và người lớn. Bệnh CMS xảy ra thường xuyên hơn ở phụ nữ hơn so với nam giới và Loại II malformations có nhiều hơn so với loại khác.

Làm thế nào chẩn đoán là bệnh Chiari malformations?

Nhiều người không có CMS với các triệu chứng và các dấu hiệu được phát hiện thấy, mà chỉ trong quá trình chẩn đoán hoặc điều trị cho các rối loạn khác. Bác sĩ sẽ xét bệnh nhân về vận động vật lý và kiểm tra trí nhớ, nhận thức, số dư (một chức năng kiểm soát của các cerebellum), liên lạc, phản xạ, cảm giác, và các kỹ năng của các chức năng kiểm soát các dây cột sống. Bác sĩ cũng có thể yêu cầu thêm những xét nghiệm sau đây:

Chụp X-quang để biết hình ảnh của xương và một số mô trên phim, của đầu và cổ, có thể không tìm ra được bệnh CM, nhưng có thể xác định xương phát triển không bình thường liên quan với CM. Điều này an toàn và thủ tục có thể được thực hiện trong một văn phòng bác sĩ chỉ mất một vài phút.

CT scan sử dụng X-quang và một máy tính để cho thấy hai chiều hình ảnh của xương và hệ mạch máu bất thường, một số bướu não và khối u, tổn thương não từ chấn thương đầu, và các rối loạn. Quét mất khoảng 3 đến 5 phút. Thủ tục được thực hiện tại một trung tâm hay bệnh viện ở một cơ sở ngoại trú và có thể xác định được bệnh ứ nước trong não (hydrocephalus) và xương phát triển bất thường kết hợp với bệnh CM.

Magnetic resonance imaging (MRI) thường được dùng để chẩn đoán một CM. Giống như CT scan, được thực hiện tại trung tâm MRI sử dụng cáclàn sóng từ trường mạnh cho ra chi tiết hình ảnh ba chiều hoặc hai chiều "slice" của cấu trúc cơ thể, bao gồm các mô, cơ quan, xương, và thần kinh. Tùy thuộc vào phần của cơ thể sẽ được quét qua, MRI có thể mất đến một giờ để hoàn thành.

Cách điều trị ra sao?

Một số CMS là dấu hiệu bệnh nhưng không ảnh hưởng đến hoạt động của cuộc sống hàng ngày. Trong các trường hợp khác, một số loại bệnh dễ dàng lộ ra theo thời gian sẽ có các triệu chứng như đau đớn.

Giải phẫu là chỉ điều trị cho đúng chức năng rối loạn hoặc tạm dừng lại những thiệt hại cho hệ thần kinh trung ương. Hầu hết các bệnh nhân có một cuộc giải phẫu, để giảm các triệu chứng của họ hoặc kéo dài thời gian tương đối ổn định.
Còn những cách điều trị khác :

Giải phẫu làm giảm áp lực cột sống (Fossa decompression) cuộc giải phẫu được thực hiện trên bệnh nhân người lớn CM để tạo thêm không gian cho các cerebellum và để giảm áp lực trên cột sống cột. Bao gồm việc thực hiện một cuộc giải phẫu, rạch một đường ở đầu và loại bỏ một phần nhỏ dưới cùng của hộp sọ (và đôi khi một phần của cột sống cột) để sửa lại những cấu trúc xương. Các giải phẫu thần kinh có thể sử dụng một thủ tục gọi là đốt điện (electrocautery) để làm teo các hạch não (cerebellar tonsils). Điều này liên quan đến kỹ thuật phẫu thuật hủy tế bào với tần số điện cao.

Cắt bỏ lá đốt sống (laminectomy), bao gồm các phẫu thuật loại bỏ một phần của xương cong, bị kênh vẹo của cột sống (các lamina) để tăng kích thước của cột sống và giảm áp lực trên cột sống và dây thần kinh gốc.

Phẫu thuật (The surgeon) cũng có thể thực hiện một vết rạch để kiểm tra não và dây cột sống. Các tế bào có thể được thêm vào để tạo thêm khoảng trống cho các dòng chảy của CSF.

Trẻ sơ sinh và trẻ em myelomeningocele( một khuyết tật bẩm sinh của hệ thần kinh TW mà trong đó một túi xắc chứa đựng phần tủy sống và màng não chảy ra xuyên qua một lỗ hổng trong cột sống; thường xuyên kéo theo bệnh tràn dịch não và chậm tâm thần) có thể yêu cầu phẫu thuật để đặt các dây cột sống và đóng mở cửa ở phía sau.

Bệnh tràn dịch não (Hydrocephalus) có thể được điều trị bằng một (shunt) hệ thống ống chuyển hướng an toàn cho chất lỏng và các áp lực bên trong đầu. Bằng giải phẫu, đưa vào phần đầu được kết nối với một ống linh động, được đặt dưới da, nơi mà nó có thể vượt quá những ranh chất lỏng vào ngực hoặc bụng để nó có thể được hấp thu của cơ thể.

Tương tự, những bác sĩ phẫu thuật có thể mở tủy sống và sự chèn một sự rẽ điện (mạch rẽ) để làm ráo nước một bệnh rỗng tủy sống hay tích dịch ống nội tủy. Một ống hay ống đái nhỏ được chèn vào trong dòng chảy cho hệ thống thoát không ngừng

Nghiên cứu về những gì đang được thực hiện?

Viện Neurological Disorders and Stroke (NINDS), một phần không thể thiếu của National Institutes of Health (NIH), hỗ trợ và tiến hành nghiên cứu về não và hệ thần kinh rối loạn, bao gồm cả Chiari malformations. Các NINDS tiến hành nghiên cứu trong phòng thí nghiệm tại NIH, ở Bethesda, Maryland, nghiên cứu và hỗ trợ thông qua tài trợ chính cho y tế cơ sở giáo dục trên khắp đất nước.

Trong một nghiên cứu, NINDS nhà khoa học đang thử định vị những Gen chiụ trách nhiệm về dị tật bằng việc khảo sát CM những bệnh nhân mà có một thành viên trong gia đình với một CM hoặc bệnh rỗng tủy sống

Sự nghiên cứu NINDS khác đang dùng cách điều trị ngoại khoa thay thế cho bệnh rỗng tủy sống. Bằng việc khảo sát những bệnh nhân với bệnh rỗng tủy sống, trong đó có một sự tắc nghẽn trong luồng CSF, NINDS nhà khoa học hy vọng liệu có phải cần một thủ tục phẫu thuật mà giải tỏa được sự tắc nghẽn trong luồng CSF đề không phải cắt vào trong bản thân tủy sống.
Các NIH của Nghiên cứu Quản lý Myelomeningocele là phẫu thuật trước khi sinh để so sánh các phương pháp tiếp cận sau khi sinh của sự đóng mở cửa ở cột sống và sau đó là phổ biến đối với một số hình thức CM. Nghiên cứu sẽ ghi danh 200 phụ nữ có thai có Spina bifida và sẽ so sánh sự an toàn và hiệu quả của các giải phẫu khác nhau.

Một hai năm sau khi các cuộc giải phẫu, các em sẽ được kiểm tra cho xem chức năng, tiến trình phát triển, bàng quang, thận, và sự phát triển não bộ.

Có bất kỳ sự điều trị nào không?

Những thuốc có thể chữa những triệu chứng nhất định, như làm giảm đau. Giải phẫu là sự điều trị duy nhất sẵn sàng sửa chữa những sự rối loạn chức năng hay làm dừng lại những thiệt hại tới hệ thần kinh TW.

Dự đoán là gì?

Nhiều người với Loại I CM không triệu chứng và không biết rằng họ có bệnh. Nhiều bệnh nhân với những loại CM khốc liệt hơn sẽ thấy giảm những triệu chứng của họ và kéo dài những thời kỳ ổn định đối với giải phẫu, nhưng chứng liệt thường là vĩnh viễn

Nghiên cứu về những gì đang được thực hiện?

Các NINDS hỗ trợ nghiên cứu về rối loạn của não bộ và hệ thần kinh như Chiari malformations. Mục tiêu của nghiên cứu này là để tăng sự hiểu biết khoa học của các rối loạn và tìm cách để ngăn chặn, xử lý, và, cuối cùng, để chữa bệnh cho họ.

image image image   image

Read More

Bệnh Đau Nhức Thần Kinh Gân Cơ (Fibromyalgie)

Chữa theo nguyên nhân hay chữa theo hậu qủa

A- Tìm nguyên nhân đặt tên bệnh và cách chữa theo tây y.
Bệnh Fibromyalgie đã được gìới y học tây phương nghiên cứu từ thế kỷ thứ 18 dưới nhiều tên gọi khác nhau như bệnh phong thấp cơ hay bệnh viêm xơ (sợi thần kinh) (rhumatisme musculaire ou fibrositis) thường gặp ở phụ nữ có bệnh tâm thần phân liệt, nó được coi là bệnh tâm thần lẫn trầm cảm ở thập niên 70-80.

Năm 1981, bác sĩ Muhammad B. Yunus là người đầu tiên thử nghiệm kiểm soát các triệu chứng của bệnh qua xét nghiệm máu.
Thuật ngữ đặt tên cho bệnh này là: Hội chứng đau nhức tự phát lan tỏa khắp cơ thể (diffuse idiopathic syndrome polyalgique=SPID) do giáo sư Kahn đề xướng, nhưng trong Kỳ Đại Hội Y Tế Thế Giới năm 1976 đã chọn thuật ngữ Anglo-Saxon Fibromyalgie để có thể mô tả các triệu chứng đúng hơn ( theo tiếng Latin và Hy Lạp, fibra là chất xơ, sợi thần kinh, myo là bắp thịt, algos là đau đớn)

Nguyên nhân gây ra bệnh này chưa được thống nhất, ủy ban chuyên khoa của Trường Đại Học chuyên Khoa Thấp Khớp Hoa Kỳ đưa ra một lý thuyết để xác định tiêu chuẩn bệnh dựa trên một rối loạn gây ra bởi xáo trộn hormon trong hệ thần kinh giao cảm trung ương, trong khi đó Tổ chức Y Tế Thế Giới năm 1992 công nhận nó là bệnh Thấp Khớp mà trước đó các bác sĩ coi là bệnh Tâm Thần (maladie psychiatrique) rất hiếm, chỉ xảy ra ở các bệnh nhân nữ giới.

Từ năm 1995 bệnh loại này càng thấy nhiều, đặc biệt vào năm 2000 có nhiều người trẻ dưới 30 tuổi, và trong nam giới cũng có người mắc phải. Trước kia bệnh fibromyalgie được phân loại bệnh theo tiêu chuẩn quốc tế (classification internationale des maladies =CIM). dưới mã số M.70.0 là loại bệnh thấp khớp không rõ ràng. Năm 2006 nhiều nghiên cứu so sánh kết qủa của MRI cho thấy hoạt động của não khác nhau giữa những người bị bệnh và người không bị bệnh, do đó, nguyên nhân của bệnh này được gọi là bệnh tâm thần hay bệnh thuộc tâm lý thần kinh cũng đã bị loại trừ, nên mã số của bệnh đổi lại là M 79.7
Trung bình từ 2-10% dân số toàn cầu của các nước công nghiệp bị bệnh này, riêng tại Canada được thống kê năm 2008 có khoảng 900.000 người mắc bệnh, ở Hoa Kỳ 2% dân mắc bệnh này, đa số là nữ giới, nam giới chiếm 0,5%.

B-Chẩn đoán
Từ năm 1990, trường đại học chuyên khoa thấp khớp Hoa Kỳ đã nghiên cứu tìm được 18 điểm đau đặc biệt của bệnh này. Tuy nhiên cũng rất khó chính xác nếu thiếu sót những thử nghiệm khác của phòng xét nghiệm y khoa, vì những điểm đau ấy cũng có mặt trong các bệnh khác như viêm khớp, loãng xương….vì thế trường đại học chuyên khoa thấp khớp Hoa Kỳ (ACR) đã xếp thành tiêu chuẩn định bệnh (tiêu chuẩn "ACR 1990"), căn cứ vào những dấu hiệu triệu chứng lâm sàng theo thống kê sau đây :
image

18 điểm đau

 
-  Một quá trình cơn đau lan ra toàn thân trong thời gian hơn 3 tháng ảnh hưởng đến tứ chi

-  Trong 18 điểm đau này các bác sĩ phải ấn đè vào một lực ( từ 39 Newtons), bệnh nhân sẽ cảm nhận được có bao nhiêu điểm đau trong 18 điểm đau, nếu có hơn 11 điểm đau mới xác định là có bệnh Fibromyalgie.

-  Các hình thức đau mãn tính có cảm giác ở chỗ đau như bầm máu, cháy phỏng, đứt, đè nặng…thường xuyên ở tứ chi và lưng. Dấu hiệu này kéo dài suốt cả ngày, cả tuần, cả tháng, cả năm.

-  Đau cơ bắp, đau xương khớp, đau nóng gan bàn chân, bàn tay, đau gân, mệt thể xác và tinh thần, tâm trạng trống rỗng, nhìn không đâu, mất kiên nhẫn, dễ nổi cáu khi bị va chạm, do căng thẳng, do tiếng động ồn ào, do ánh sáng, do sự hiện diện của người khác, do mùi hôi, mùi thức ăn…

-  Bị trầm cảm, có ý nghĩ chán đời muốn tự tử, cơ thể thiếu chất bột (glucid, carbohydrates) nên hay ưa ăn bánh ngọt, bánh mì, khoai tây chiên…, mắt khô nóng như phỏng, rối loạn trí nhớ, rối loạn tiêu hóa (đánh rắm, tiêu chảy), khó ngủ, không tập trung, nặng hơn khi bị đói hay thiếu đường chân tay run yếu sức, cảm giác đau nhức toàn thân.

Những rối loạn trên thường kết hợp với bệnh thuộc tiêu hóa trường vị làm đau đầu

Những xét nghiệm y khoa thấy có sự bất thường của chất não tủy ở bệnh nhân, mức độ chất P, một chất dẫn truyền thần kinh có liên quan đến nhận thức của sự đau đớn, sự hiện diện của chất chuyển hóa để tạo ra chất giảm đau như monoamines, serotonine, noradrénaline, dopamine bị giảm trong khi đó nồng độ tập trung chất nội sinh như chất á phiện (endorphine, enképhaline) gần như cao hơn bình thường, như vậy yếu tố tăng trưởng thần kinh đã được chứng minh tạo ra chất tham gia vào các cấu trúc liên quan đến não tủy giữa não và cột sống tủy, và cả sự gia tăng acide amine trong chất lỏng não tủy chứng minh rằng có sự liên hệ mức độ chuyển hóa của glutamate và oxyde nitrique và những cảm giác đau. Xem hình ảnh của những phản ứng của chức năng não thấy giảm lưu lượng máu ở đồi não, ở những hạch dưới đáy não và giữa não.

Rất nhiều nghiên cứu thử nghiệm thấy rằng bệnh fibromyalgie càng gia tăng cái đau khi bị tăng áp lực, tăng nhiệt nóng qúa hay lạnh qúa hoặc nhạy cảm với điện hay hóa chất. Những thử nghiệm khác nhau trên hệ thống thần kinh điều chỉnh giảm cơn đau của hệ thần kinh ức chế cho thấy những phản ứng có thay đổi được lập đi lập lại và làm giảm đi hay mất đi phản ứng giảm đau dẫn từ sự gắng sức của thể lực, những bằng chứng này cho thấy sự xáo trộn của hệ thống thần kinh trung ương.

Như vậy hiện nay bệnh fribromyalgie vẫn chưa có hướng điều trị tận gốc, tạm thời chữa vào triệu chứng là những hậu qủa tất yếu của bệnh qua những thử nghiệm đang nghiên cứu để tìm nguyên nhân gây bệnh.

C-Tìm nguyên nhân và cách chữa theo đông y khí công.

Tìm nguyên nhân :
Tìm nguyên nhân bệnh trong cơ thể con người theo đông y không xét ra ngoài 2 yếu tố chính là khí và huyết, 3 yếu tố của tinh-khí-thần, và bát cương như âm-dương, hư-thực, hàn-nhiệt, biểu-lý.
Do đó tìm nguyên nhân bệnh fibromyalgie cũng không ngoại lệ, đông y gọi tên bệnh này là bệnh đau nhức thần kinh gân cơ, chia ra làm nhiều loại do nhiều nguyên nhân khác nhau như :
Loại thiếu khí gọi là khí hư
Loại thiếu huyết, gọi là huyết hư.
Loại vừa thiếu khí thiếu huyết, gọi là khí huyết đều hư.
Loại dư khí dư huyết, gọi là khí huyết đều thực
Hay loại khí huyết bị tắc không thông…
Hay loại khí huyết đều hàn, khí huyết đều nhiệt….

Nếu xét theo tứ chẩn của phương pháp đông y như vọng, văn, vấn, thiết thì tây y khó hiểu, không chấp nhận vì không có tiêu chuẩn chính xác, nên đông y khí công đã dùng những máy móc của tây y và dùng những kết qủa xét nghiệm y khoa của các bệnh nhân đưa cho xem, từ đó đông y lý luận theo biện chứng khí hóa ngũ hành tạng phủ để xếp thành những loại bệnh kể trên.
Xét yếu tố Biểu hay Lý, Hư hay Thực, Hàn hay Nhiệt theo đông y để phân loại bệnh :

Biểu là bệnh mới phát hay bệnh còn nhẹ, chưa làm tổn thương thực thể tạng phủ. Lý là bệnh nặng đã làm tổn thương tạng phủ. Đông y không căn cứ vào số điểm đau, vì đó là hậu qủa bề ngoài, không phải là nguyên nhân và không thể chỉ hỏi bệnh nhân thời gian bệnh đã bao lâu, mà căn cứ vào kết qủa xét nghiệm tây y như thử đường trong máu, calci trong máu, trong nước tiểu, áp huyết ở 2 tay, 2 chân, nhịp tim, tần số hơi thở, điểm đau ở huyệt Thần Tàng để tìm xem có bị cholesterol làm nghẽn ống tim mạch, và điểm đau ở huyệt Âm Giao (dưới rốn 1 thốn) nơi chuyển hóa nước, và dùng nhiệt kế đo nhiệt ở Bách Hội (đỉnh đầu) Chiên Trung (giữa ngực), Trung Quản (giữa bụng) Khí Hải ( dưới rốn 1.5 thốn), Mệnh Môn (sau lưng), Lao Cung (giữa lòng bàn tay) và Dũng Tuyền (giữa lòng bàn chân).

image image image
image image image
image image image


Nếu kết qủa xét nghiệm cao, trên tiêu chuẩn của tây y, được xếp vào loại bệnh thực như đường cao, áp huyết cao, calci-huyết cao, mạch tim cao, ngược lại dưới tiêu chuẩn được xếp vào loại bệnh hư. Sự chênh lệch so với tiêu chuẩn ít, thuộc loại biểu dễ chữa hơn so với loại chênh lệch nhiều thuộc loại bệnh nặng hơn phải chữa lâu hơn.

Riêng về hàn nhiệt của cơ thể được đo trên huyệt bằng nhiệt kế, tây y chưa áp dụng nên chưa có kinh nghiệm, nhưng tiêu chuẩn theo kinh nghiệm của khí công, nếu thượng tiêu (trên ngực lên đầu) nhiệt độ cao hơn trung tiêu (giữa bụng) và hạ tiêu (từ dưới rốn đến 2 bàn chân) là bệnh nhân bị cao áp huyết, thí dụ ở Bách Hội 37.5c, Trung Qưản 34.5c là bệnh cao áp huyết thuộc thực chứng, nhưng Bách Hội 33.5c, Trung Quản 29.0c là bệnh cao áp huyết thuộc hư chứng, nếu Khí Hải 36.0c, Mệnh Môn 30.0c là thận dương không chuyển hóa, nếu Trung Quản 37.7c trung tiêu thực, nếu Lao Cung 36.0 Bách Hội 36.0c đau tay vai thực chứng, cả hai thấp hơn sẽ bị đau tay vai do hàn chứng, nếu thêm áp huyết thấp là đau tay vai do hư hàn. Nếu đo ở Dũng Tuyền cao hơn 37.0c là thận hư nhiệt, áp huyết và tiểu đường cao do âm hư hỏa vượng…..

Dùng máy đo oxymètre đo khí và huyết trên Bách Hôi (đỉnh đầu), trên Thần Đình (trong chân tóc giữa trán) Thính Cung (trước loa tai), phần khí Sp02 dưới 80 là não thiếu oxy, phần huyết dưới 60 không đủ huyết lên đầu, và nếu đo áp huyết thấp dưới 90/60mmHg mạch 95 là cơ thể thiếu lượng máu trầm trọng, nếu khoảng 105/65mmHg mạch 70 thiếu máu bẩm sinh ….

  image       image

Quy kinh chẩn pháp nhờ những số liệu rõ ràng bằng kết qủa xét nghiệm và đo được, các bệnh đông y đều quy về chức năng khí hóa của tạng phủ để xếp loại theo chứng như chứng tâm âm hư, tâm âm thực, tâm khí hư, tâm khí thực, can khí hư, can khí thực, tâm tỳ thực, can âm thực, can âm hư, can tỳ bất hòa…. Và thầy thuốc đông y phải biết phân biệt dấu hiệu triệu chứng lâm sàng của mỗi chứng, và các dấu hiệu này tây y đã có đầy đủ, nhưng vì tây y cho những dấu hiệu này là nguyên nhân, nhiều chi tiết qúa không thể chữa đúng trên bình diện rộng lớn, nên mỗi đợt chữa lại xét nghiệm máu, kết qủa không như mong muốn, lại thay thuốc, lại thử máu….Còn ngược lại đông y chỉ xem như hậu qủa tất yếu, còn nguyên nhân là chức năng khí hóa (sinh hoá chuyển hóa) của tạng phủ tây y không biết đến. Và quan trọng nhất, sự bất bình thường của chức năng tạng phủ lại do cả 3 yếu tố tác động tạo ra nguyên nhân là do tinh-khí-thần không hòa hợp.

Trong giáo lý nhà Phật ngoài lý Nhân-Qủa là nguyên nhân xấu sẽ có hậu qủa xấu, nguyên nhân tốt sẽ có hậu qủa tốt, còn có một lý thuyết nữa đem áp dụng trong chữa bệnh gọi là thuyết Nhân-Duyên, có nghĩa là tuy nhân có xấu, nhưng chưa đủ duyên thì nhân không phát triển để tạo ra hậu qủa được. Thí dụ loại bệnh lây nhiễm như cúm gia cầm, hay bệnh lao phổi…nguyên nhân do virus và vi trùng lao. Nếu xét nghiệm máu của một người nào đó thấy có virus hay vi trùng lao, thì hậu qủa là người đó đã bị bệnh. Nhưng không thể nào trong một bệnh viện lao, trong không khí, môi trường bệnh viện, hay ở những đồ vật, nắm cửa, trên giường nằm, khăn trải gìường, bàn ghế không có chỗ nào không dính virus vi trùng ?, tất nhiên phải có không tránh khỏi, nhưng phải đủ duyên, tay ai dính phải, mũi ai hít phải mới đưa nhân vào trong cơ thể tạo ra hậu qủa là bị cúm hay lao. Vậy chữa bệnh là phải ngăn ngừa không tạo duyên cho nhân phát triển là cách ngừa bệnh tốt nhất, phải ngăn cản không cho duyên tới như cần đeo găng tay, khẩu trang, áo khoác khi vào những nơi nhiễm trùng…giống như nhân của một hạt giống xấu sẽ phát triển ra cây xấu, nếu có đủ duyên là bón phân, tưới nước… muốn không cho cây xấu (là đã có nhân bệnh) không phát triển thì đừng tưới nước bón phân, ngược lại giống cây tốt là nhân, thiếu duyên là bón phân tưới nước, nhân cũng không phát triển được. Trong đông y, chính 3 yếu tố tinh-khí-thần là duyên tác hợp với nguyên nhân là chứng hư, chứng thực, chứng hàn, chứng nhiệt, chứng thấp hàn, chứng thấp nhiệt…đó là những chứng tạo ra bệnh, nhẹ thì không tổn thương thực thể, còn nặng đã vào sâu trong máu, gân, xương.là đã làm tổn thương thực thể thấy được qua xét nghiệm máu, chụp X-quang..… .

Đông y khí công cho rằng sở dĩ mọi bệnh xẩy ra đều do tinh sai, khí thiếu, thần suy. Cho nên khi xét đến nguyên nhân cần phải xét đế tinh-khí-thần. Tinh khí thần cũng có ngũ hành ảnh hưởng đến ngũ hành của tạng phủ.
Tinh nếu cho là thức ăn thuốc uống sẽ căn cứ vào mùi vị để định ngũ hành như mặn vào thân thuộc thủy, ngọt vào tỳ thuộc thổ, chua vào gan thuộc mộc, cay vào phế thuộc kim, đắng vào tim thuộc hỏa..

Khí cũng có ngũ hành, khí bên ngoài cơ thể như phong thuộc mộc, hàn thuộc thủy, thử thuộc hỏa, thấp thuộc thổ, táo thuộc kim…Khí trong cơ thể khi bị bệnh thì gan tạo ra phong, thận tạo ra hàn, tỳ tạo ra thấp, phổi tạo ra táo, tim tạo ra nhiệt.
Thần cũng có ngũ hành, khi có bệnh do vui qúa hại tim, lo quá hại tỳ, giận quá hại gan, buồn quá hại phổi, sợ quá hại thận, nên trong dân gian đã biết ứng dụng vào trong câu nói như vui qúa hóa dại (điên), lo qúa ăn mất ngon, giận bầm gan, giận hộc máu, buồn thối ruột, buồn chán thở dài, sợ vãi đái..

Cách chữa bệnh của đông y là lý luận ngũ hành sinh khắc ứng với tạng phủ bệnh để lập lại quân bình ngũ hành cho tạng phủ bằng nguyên tắc đối chứng trị liệu, và phương pháp chữa gốc con hư bổ mẹ, mẹ thực tả con. Nhưng căn cứ vào chứng hư thực để tìm đường kinh nào là mẹ, đường kinh nào là con và lại phải truy tìm nguyên nhân của ngũ hành, chứ không phải là nguyên nhân nhìn thấy được qua dấu hiệu bệnh.

Thí dụ tây y tìm ra bệnh thuộc tim mạch, nguyên nhân do áp huyết cao là bệnh thực chứng, nếu xáo trộn chức năng thì tim đập qúa nhanh hay quá chậm, đổ mồ hôi, mất ngủ…nếu tổn thương chức năng thì thấy hở van tim, hẹp van tim, tắc động mạch vành, dầy tâm thất tâm nhĩ, cholesterol đóng chung quanh vách thành mạch…..lúc đó tây y sẽ chữa vào ngọn là tim mạch, chứ không chữa vào nguyên nhân cái gì đã làm cho tim mạch bị bệnh để ngừa hậu qủa tái diễn.

Ngược lại đông y lại có hai cách chữa. Cách thứ nhất, bớt đi những duyên xấu đã làm nguyên nhân bên trong của tạng phủ bị bệnh, theo nguyên tắc con hư bổ mẹ mẹ thực tả con, không dính dáng gì đến nơi bệnh hay những triệu chứng bệnh, vì khi điều chỉnh khí huyết của kinh me hay kinh con phục hồi lại chức năng khí hóa bình thưòng của cả tổng thể ngũ hành thì những triệu chứng bệnh sẽ tự khỏi. Cách thứ hai, bổ sung duyên tốt để làm mạnh chức năng tạng phủ hoạt động trở lại bình thường, lúc đó các triệu chứng bệnh không còn duyên xấu tạo điều kiện cho bệnh nặng thêm mà ngược lại được duyên tốt hỗ trợ nên bệnh mau bình phục. .

Chúng ta hãy xét đến 3 yếu tố này trong cách chữa bệnh Đau Nhức Thần Kinh Gân Cơ (Fibromyalgie)

Nguyên nhân do TINH :

Tinh có từ thức ăn, thuốc uống hàng ngày để tạo ra khí huyết. Loại duyên xấu có hại cho khí huyết cần phải loại trừ, loại duyên tốt cho khí huyết cần phải bổ sung.

a-Nếu bệnh thuộc hư chứng :
Nếu bệnh đau nhức thần kinh gân cơ do áp huyết thấp, thiếu máu não hay thiếu máu cục bộ ở nơi đau do nghẽn tắc không thông sẽ làm đau nhức lan tỏa chạy từ chỗ này đến chỗ khác, cơ thể mất sức, chán nản, sợ sệt, hồi hộp, hơi thở yếu, tim đập nhanh, mất ngủ, người gầy ốm, suy nhược thần kinh, thân nhiệt không đủ, sợ lạnh.

Cách chữa cần phải loại bỏ duyên xấu là những chất chua như cam, chanh, bưởi, vit.C, dưa chua….Lý thuyết đông y nói gan sợ chua, gan chứa máu, chất chua sẽ phá máu, phá hủy hồng cầu. Chức năng của gan là phải cung cấp bơm máu đủ cho tim hoạt động, nhưng nhiều chất chua đã làm cho chức năng gan bị hư, về ngũ hành gan thuộc mộc sẽ nuôi tâm hỏa, nhưng vì gan hư làm tim không đủ số lượng máu để tuần hoàn khắp cơ thể da thịt gân cơ nên các sợi máu li ty gọi là thần kinh bị co rút mới bị đau.

Tây y thì thấy nguyên nhân đau do sợi thần kinh thuộc tâm thần, cho uống thuốc tâm thần, làm giảm sụ hưng phấn hay ức chế. Còn đông y cho tất cả các triệu chứng kể là hậu qủa của nguyên nhân do chức năng tuần hoàn máu của tim không đủ, gọi là chứng tâm hư vừa khí vừa huyết, cho nên khi chữa theo nguyên tắc con hư bổ mẹ, có nghĩa là tim hư do gan hư phải bổ gan. Muốn chữa gan phải chữa 2 cách, cách thứ nhất loại duyên xấu, tăng duyên tốt. Theo lý nhân duyên, nguyên nhân gan hư hàn do duyên xấu làm hư là những chất chua, chất lạnh phải bỏ. Tạo duyên tốt cho gan, cần phải trợ duyên bằng những chất tăng hỏa, tăng máu, tăng khí, làm cho gan phục hồi cả 3 chức năng gọi là can âm (huyết) can dương (khí) và can hỏa, nó cần thịt đỏ, củ dền, gia vị gừng, hành, tiêu, ớt, tỏi, sò huyết, hoặc thuốc bổ máu đương quy…

b. Nếu bệnh thuộc thực chứng :
Nếu bệnh đau nhức thần kinh gân cơ do áp huyết cao làm thần kinh ngoại biên đi qua cổ gáy vai tay bị co rút, áp lực ống mạch căng, bị nghẽn tắc nơi khe kẽ quanh các khớp cổ gáy, vai, cổ tay, ngón tay, tây y gọi là thấp khớp, những điểm đau không lan tỏa, chỉ ở một chỗ, có triệu chứng mất ngủ, nhức đầu, đau nhức cổ gáy vai tay lưng, thân nhiệt cao, trán và lòng bàn tay nóng, tinh thần căng thẳng, hay cáu giận, càng cáu giận càng đau, ăn nhiều căng tức ngực bụng, táo bón…

Tất cả những triệu chứng này tây y cho là nguyên nhân, còn đông y cho là hậu qủa tất yếu của chứng tâm hỏa vượng hay tâm nhiệt thịnh. Cách chữa theo đông y là mẹ thực tả con, tâm hỏa là mẹ của thổ thuộc tỳ và vị. Nếu tâm nhiệt có thể làm tỳ nhiệt, vị nhiệt, hoặc cả hai, nếu tỳ nhiệt làm ra bệnh tiểu đường, da thịt nóng, dễ nổi vết bầm khi đụng chạm, vị nhiệt thì ưa đói ăn hoài, cả tỳ vị nhiệt gây ra bệnh thấp khớp xương hóa vôi, áp huyết cao, táo bón, khớp ngón tay cứng đau….. Có nguyên nhân là chứng tâm hỏa vượng hay tâm nhiệt thịnh, chữa theo đối chứng trị liệu của đông y, hỏa vượng sẽ làm bớt vượng, nhiệt thịnh sẽ làm mất nhiệt bằng cách cắt duyên xấu cho bệnh không đủ điều kiện xấu phát triển thành bệnh nặng, và thêm duyên tốt giúp phục hồi chức năng khí hóa của tạng phủ cho mau khỏi bệnh.

Những duyên xấu do ăn uống trong trường hợp này là các chất cay nóng khô, chất kích thích thần kinh hưng phấn, như đường, calcium, bia, coca, cà phê, thuốc lá, chocolat, thức ăn khô như pizza, khô mực, chiên xào, nhiều dầu chiên, trái cây nhiệt đới nóng như nhãn, xoài, mít, sầu riêng, vitamins B12, chất sắt….Những chất này là duyên xấu cho chứng bệnh thực nhưng lại là duyên tốt cho bệnh thuộc hư chứng kể trên, vì nó làm tăng khí tăng huyết, làm cao áo huyết, tăng nhiệt.
Ngược lại, những chất tạo duyên xấu của bệnh thuộc hư chứng làm mất máu, mất khí, mất nhiệt lại cần thiết trở thành duyên tốt để điều chỉnh phục hồi chức năng tạng phủ cho bệnh thuộc thực chứng.

Nguyên nhân do KHÍ :
Khí ngoài cơ thể và khí trong cơ thể cũng có duyên xấu làm bệnh nặng thêm và duyên tốt làm khỏi bệnh.

a. Nếu bệnh thuộc hư chứng, áp huyết thấp do thiếu khí :
Khí bên ngoài như thời tiết lạnh, không khí ẩm thấp không khoáng đãng, nhiều khí CO2 ngột ngạt, thiếu dưỡng khí, thiếu ion, môi trưòng làm việc chật hẹp….Khí trong cơ thể như hơi thở yếu do chức năng phổi kém, trong người lạnh do chức năng tâm hỏa suy, ăn ít, khí tỳ vị suy, hay mệt mất sức do thận khí hư, suy nhược thần kinh, ù tai chóng mặt… đấy là những duyên xấu làm bệnh nặng thêm. Cần phải tạo duyên đối nghịch lại làm cho không khí của môi trường sống thoáng mát, ấm áp, nhiều oxy. Trong cơ thể phải vận động tập hít thở cho tăng thân nhiệt và đủ khí thúc đẩy tuần hoàn máu, làm tăng áp huyết. Dương khí được kích thích bằng huyệt làm tăng áp huyết, tăng nhiệt, tăng hấp thụ chuyển hóa biến thức ăn thành máu, thành nhiệt lượng, thành năng lượng, tập khí công bài Vỗ Tay 4 Nhịp, Nạp Khí Tung Tiêu, Cúi Ngửa 4 Nhịp, Thở Thiền ở Đan Điền Thần.

b. Nếu bệnh thuộc thực chứng áp huyết cao do dư khí
Duyên xấu bên ngoài cơ thể như nóng nhiệt oi bức ẩm thấp, môi trường chật hẹp, nóng nắng gay gắt, tiếng động ồn ào…và duyên xấy bên trong cơ thể dư khí như bụng nhiều ga, ợ hơi nhiệt, táo bón, hơi thở ngắn, gấp, nhanh, thân nhiệt tăng mà mồ hôi không thoát ra được… Phương pháp chữa theo đông y là đối chứng làm nghịch lại, đổi không khí bên ngoài thoáng mát, dùng máy điều hòa không khí nơi môi trường làm việc. Điều chỉnh khí bên trong bằng cách tập thở xả nhiệt khí trong cơ thể làm hạ áp huyết, làm mất hỏa khí ở tim, tăng hàn khí ở thận, bớt dương khí, hoặc chuyển dương khí thành âm khí bằng huyệt Mệnh Môn, Tập khí công Bài Vỗ tay 4 Nhịp, bài Kéo Ép Gối Thở Ra làm Mềm Bụng, thở thiền ý trụ ở huyệt Mệnh Môn.

Nguyên nhân do THẦN
a. Nếu bệnh thuộc hư chứng áp huyết thấp :
Duyên xấu bên ngoài cơ thể là môi trường sống chung quanh ảm đạm, bi đát, tối tăm, buồn thảm, thiếu ánh sáng, dơ bẩn, hôi hám, kinh tế xuống thấp, nhiều người thất nghiệp, trộm cướp, cuộc sống sa đọa trụy lạc, chán nản làm ảnh hưởng xấu đến tinh thần người bệnh. Duyên xấu bên trong cơ thể do suy nhược thần kinh, mất tự chủ, tự tin, cảm thấy cô đơn hay lo sợ, đời sống bi quan, chán đời hay thở dài, thất vọng, hay khóc, muốn tự tử.

Cách chữa theo đông y là đối chứng trị liệu, phải đổi lại môi trường hoàn cảnh và điều kiện sống, sống tự tin, sống vui sống khỏe, sống có bạn, năng hoạt động, tham gia vào những sinh hoạt xã hội, ca hát, thể thao, bơi lội…Tập thở thiền, ý trụ Đan Điền Thần làm tâm không bị động, tăng niềm tin, và tăng sức chịu đựng của cơ thể.

b. Nếu bệnh thuộc thực chứng áp huyết cao
Duyên xấu bên ngoài cơ thể là môi trường sống vội vã, công việc căng thẳng, tiếng động ồn ào, ánh sáng gay gắt, mầu sắc chói lòe loẹt… duyên xấu bên trong cơ thể như ưa giận dữ, bất mãn, bực bội, tính tình nóng nẩy, vội vã, bất an, hay tranh cãi…

Cách chữa theo đối chứng trị liệu của đông y là phải loại bỏ những duyên xấu kể trên và tăng duyên tốt như giao tiếp với những bạn hiền, tìm nơi thanh vắng để tĩnh tâm, nghe nhạc êm dịu, tập kiểm soát hơi thở chậm nhẹ sâu lâu đều bình thường trong lúc làm việc, đi đứng nằm ngồi, tập khí công thiền, tập hỷ xả, nhẫn nhục, làm công việc từ thiện…

Trên đây là 2 thí dụ về cách chữa bệnh đau nhức thần kinh gân cơ do thực chứng và hư chứng thấy được qua máy đo áp huyết và đo bằng nhiệt kế, ngoài ra cũng có những trường hợp bệnh Fibromyalgie do những nguyên nhân khác như áp huyết bất ổn định, không bình thường, lúc cao lúc thấp, thân nhiệt lúc nóng lúc lạnh, chức năng tiêu hóa bất bình thường lúc no lúc đói, hoặc do biến đổi tâm lý, tinh thần hoảng loạn, lúc vui lúc buồn, hoặc do hoang tưởng…tất cả những trường hợp bệnh kể trên, phương pháp chữa bệnh bằng đông y- khí công đã từng trải, có khi chỉ cần chữa đối chứng điều chỉnh tinh, có khi chỉ cần điều chỉnh khí, hướng dẫn tập thở điều khí quy nguyên vào những tạng phủ bị xáo trộng chức năng khí hóa, có khi chỉ cần hướng dẫn tinh thần để làm hưng phấn hay ức chế thần kinh tạo cho bệnh nhân có niềm tin để cho bệnh nhân biết rằng loại bệnh này không phải là nan y khó chữa…

Đã có lần cách đây 7 năm, một nữ bệnh nhân, người Québecoise khoảng 50 tuổi, mập mạp khỏe mạnh đến phòng mạch cho biết bà bị bệnh Fibromyalgie, bà cho tôi xem mấy bài báo nói về bệnh này rất khó chữa, và cho xem một thông báo về chính sách ưu đãi của chính phủ đối với những người bị bệnh này như sau :

Trong công sở làm, không được giao cho những người có bệnh này phụ trách những việc quan trọng, vì khi họ bị đau, họ có thể bỏ ngang công việc hay vất bỏ làm mất những hồ sơ đi..
Nếu họ được chứng nhận tình trạng bệnh nặng, không thể làm việc, dù bất cứ ở độ tuổi nào, họ cũng được nghỉ việc và hưởng lương 80% ….

Tôi vừa xem xong thì bà nói, bà bị bệnh nặng đang được hưởng lương nghỉ việc 80%, bà hỏi tôi có thể chữa được không?
Đối với đông y khí công, tất cả mọi bệnh đều từ khí huyết, và tinh-khí-thần. Cách chữa, trước hết phải làm cho khí huyết lưu thông đầy đủ, điều chỉnh ăn uống, luyện tập hơi thở. Chữa bệnh theo phương pháp đông y khí công rất đơn giản, hữu hiệu, đạt được nhiều kết qủa, nhưng điều đặc biệt phải tránh không để cho tinh thần bệnh nhân bị lo lắng, nếu không, tất cả mọi chức năng khí hóa của khí huyết trong tạng phủ đều ngưng trệ, sẽ gây ra những duyên xấu cho sự tuần hoàn khí huyết tạo ra nhiều hậu qủa là những triệu chứng bệnh mà tây y đã xét nghiệm được.

Muốn chữa khỏi bệnh, phải tạo cho bệnh nhân niềm tin, và phân tích so sánh cho bệnh nhân biết sự khác biệt trước khi tập khí công và sau khi tập khí công. Điều quan trọng làm cho tinh thần bệnh nhân ổn định, không lo sợ, và giúp cho họ có niềm tin. Câu đầu tiên tôi nói để trấn an và tạo niềm tin cho bà là : Bệnh này đối với môn khí công tự chữa bệnh rất dễ chữa. Bà ngạc nhiên hỏi thật không, đã có bao nhiêu người được chữa khỏi….Tôi trả lời rất nhiều người nhờ tập khí công đã khỏi bệnh. Nghe xong bà khóc vì vui sướng.

Bệnh của bà có dấu hiệu nhiều điểm đau, áp huyết ở tay trái đo được 160/95mmHg mạch 80, tay phải 173/95mmHg mạch 90, đường trong máu cao 12mmol, bụng căng cứng, hơi thở nhanh 30-40 hơi trong 1 phút, tim đập nhanh, trán nóng, lòng bàn tay chân nóng, đo nhiệt ở đầu 37.8c, ở trán 37.8c, ở Lao Cung giữa bàn tay 37.2c, ở Khí Hải 33.4c chứng tỏ chức năng thận yếu không chuyển hóa nước thành khí, và bụng to do uống nhiều nước…

Sau khi được hướng dẫn tự tập thở thiền cho hạ áp huyết, tập thể dục động công cho thông khí huyết ở đầu cổ gáy vai lưng tay chân, nhiều đìểm đau đã biến mất, thử lại kết qủa bằng máy móc thấy áp huyết xuống còn 132/82mmHg, giảm nhiệt ở thượng tiêu xuống còn 36.0c ở Khí Hải tăng 37.0c, trán mát xuất mồ hôi, chân tay mát, ấn đè vào những điểm đau không thấy đau, lượng đường trong máu giảm còn 6.0mmol bụng mềm, hơi thở chậm lại còn 12 hơi trong 1 phút, …bệnh nhân cảm thấy sung sướng lên tinh thần, bà thấy khỏe không còn đau đớn. Tôi nói như vậy bà đã biết cách tự chữa cho bà mỗi ngày được rồi. Bà nói : Bây giờ thì tôi thấy khỏe hết đau, cảm thấy không còn bệnh tật . Nhưng bất chợt trong ngày cơn nóng lại bốc lên phừng phừng là cơn đau trở lại, nhất là đêm ngủ tự nhiên người nóng, đau đớn ghê gớm, lúc đó tôi phải làm sao?

Tôi trả lời như vậy bà bị thêm chứng bốc hỏa vận mạch của người đang thời kỳ mãn kinh. Bà nên tập hát one, two, three, four, five, six, seven.. theo bài hát của khí công, mục đích xả khí nóng trong người thoát ra làm hạ nhiệt, hát để tập thở hơi đều giúp cho áp huyết được ổn định bình thường, để giảm đau, để giúp tinh thần luôn vui vẻ, về ăn uống không đưọc dùng những chất cay, nóng làm kích thích hưng phấn thần kinh như cà phê, thuốc lá, coca, thức ăn chiên xào nhiều dầu mỡ, chất ăn nướng như pizza, barbercue, bớt uống nước nhiều, bớt dùng calcium…

Bà hỏi : Ông có dám cho tôi số phone nhà riêng của ông không, để ban đêm tôi bị đau trở lại tôi sẽ gọi để nhờ ông chỉ dẫn tôi phải làm cách nào.

Nếu thầy thuốc sợ bệnh nhân làm phiền không cho số phone, thì bệnh nhân mất sẽ tin tưởng cho rằng thầy thuốc nói khỏi bệnh là nói gạt mình, tinh thần họ sẽ bi quan lo lắng, căn bệnh sẽ tái phát. Thầy thuốc phải chú trọng đến cách chữa thần trong trường hợp này là quan trọng nhất, cho họ một niềm tin, tôi đã cho bà số phone.

Khoảng 12 giờ đêm, tôi đang ngủ, bà gọi phone cho tôi vừa khóc vừa nói, tôi đau qúa, tôi phải làm sao. Tôi bảo bà bình tĩnh, vào nhà tắm, mở nước lạnh, ngâm người trong bồn tắm khoảng 30 phút, tập thở bằng bài hát khí công one, two, three…cho đến khi hết đau thì thôi. 30 phút sau bà gọi lại cho biết bà đã hết đau.

Hôm sau bà đến phòng mạch bà hỏi, nhỡ khi tôi đi đường bị đau thì phải làm sao. Tôi trả lời bà đã biết tự chữa làm hết cơn đau bằng cách đi tắm nước lạnh và hát 1,2,3…đêm hôm qua rồi, bà cứ thế mà áp dụng tiếp phương pháp đó, và mỗi ngày tập thể dục khí công cho xuất mồ hôi giải nhiệt thì khí huyết được tuần hoàn khắp cơ thể, cơn đau sẽ biến mất hoàn toàn.
Những đêm kế tiếp, bà không gọi điện thoại cho tôi nữa, mỗi tuần bà đến phòng mạch 1 lần để tôi đo lại tim mạch áp huyết, hơi thở, đường trong máu và nhiệt độ trên huyệt.

Một tháng sau, bà bảo, bây giờ tôi hết bệnh rồi, tôi muốn đi làm nhưng sở làm không nhận lại. Tôi đề nghị bà tái khám bác sĩ chuyên môn về Fibromyalgie của bà và xin bác sĩ chứng nhận bà đã khỏi bệnh để được đi làm trở lại. Bà cho biết bác sĩ không chịu chứng nhận, vì theo tây y không thể nào bệnh này chữa khỏi được. Bà nói bà không được đi làm bà sẽ cảm thấy bực bội lắm. Đó là một duyên xấu sắp tạo ra nguyên nhân tinh thần bị ức chế làm bệnh dễ tái phát. Tôi an ủi bà, bà đã được hưởng lương 80% rồi, việc đi làm trở lại không cần thiết, chỉ đi làm với mục đích giải khuây, hoạt động chân tay một chút và không bị áp lực công việc hối thúc làm tổn hại tinh thần, thì bà nên tự nguyện làm công tác thiện nguyện cho một cơ quan thiện nguyện nào đó, mỗi ngày một vài giờ là đủ.

Bà nghe theo lời tôi, tìm được một công việc thiện nguyện, bà cảm thấy vui lắm, thời gian này không có một cơn đau nào xảy ra. Sáu tháng sau, nơi cơ quan của bà đề nghị cho bà hưởng lương, sáu tháng sau nữa bà than phiền với tôi, cơ quan của bà bằng lòng cho hưởng lương nhưng đến nay chưa nhận được lương, vì bác sĩ không chịu chứng nhận bà là người hết bệnh. Tôi nghĩ, nếu tinh thần của bà vì chuyện này mà bực bội có thể là duyên xấu sẽ tạo ra nguyên nhân làm bệnh tái phát. Về 2 yếu tố tinh và khí thì tốt đã tốt, còn yếu tố thần đang bị giao động xấu, nên tôi nhắc nhở cho bà biết, mục đích ban đầu của bà muốn đi làm cho vui không phải đi làm để cần tiền, bà cứ quên nó đi, có lương hay không lương cũng chẳng sao, người ta cho bà cơ hội đi làm để thử thách tinh thần của bà, ngay cả bác sĩ cũng đang thử thách tinh thần của bà, đối với tôi, bà có đi làm hay không, không quan trọng, chỉ cần bà giữ cho 3 yếu tố tinh đúng, khí đủ, tinh thần vui vẻ thì không bao giờ bị bệnh fibromyalgie cả. Thế là bà đã yên tâm, đi làm cũng giống như đi chơi, thích thì đi, mỗi ngày vài giờ, cuối cùng một năm sau bà đến văn phòng của tôi để khoe bà đã nhận được tiền lương của những tháng trước, tinh thần của bà vui hẳn lên, vừa khỏi bệnh vừa được hưởng lương.

Thấm thoát đã 7 năm trôi qua, bệnh fibromyalgie của bà đã biến mất chỉ nhờ biết cách điều chỉnh 3 yếu tố tinh-khí-thần hòa hợp của phương pháp khí công tự chữa bệnh. Bà cũng đã giới thiệu rất nhiều người đồng bệnh với bà đến với môn tập khí công tự chữa bệnh giúp cho họ thoát khỏi một chứng bệnh nan y mà hiện nay tây y chưa khắc phục tận gốc được, vì có qúa nhiều triệu chứng phải chữa ngọn theo triệu chứng bằng nhiều loại thuốc khác nhau của nhiều bác sĩ chuyên khoa khác nhau khiến cơ thể phải chịu những tác hại do phản ứng phụ của nhiều loại thuốc hợp lại trở thành độc tố càng làm cho tinh-khí-thần bị xáo trộn biến đổi thành duyên xấu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng bệnh nặng hơn. .

Read More

Phương pháp trị nám da mặt

Câu hỏi :

Con lên trên mạng tìm thầy chữa bệnh biết trang web của thầy ,con mừng quá hy vọng sẽ hỏi thầy chữa con được khỏi bệnh.

Thưa thầy con năm nay 22 tuổi hiện con bị nám da mặt rất nặng (2/3 khuôn mặt) con đã đi chữa ở bệnh viện da liễu,các thẩm mỹ viện nhưng bệnh chỉ đỡ 1 thời gian rồi lại nặng hơn. hiện nay chỗ da bị nám dày hơn chỗ da bình thường. vì là con gái lên con mặc cảm lắm .... con xin thầy chỉ giúp con cách chữa căn bệnh quái ác này. con rất biết ơn thầy rất nhiều.

kính chúc thầy luôn mạnh khoẻ!

Con L.A.

Trả lời :

Bệnh nám da mặt do nhiều yếu tố kết hợp như :

1- Áp huyết thấp : Phải dùng máy đo áp huyết đo ở 2 cánh tay, nếu số đo trên từ 105-110mmHg là không đủ áp lực khí đẩy máu tuần hoàn lên đầu để nuôi da mặt. Nếu thấp hơn nữa từ 105 trở xuống đến 90 thì cơ thể bị bệnh thiếu máu, có triệu chứng hay chóng mặt, đau đầu, dễ bị mệt, hay quên, đau gáy vai tay, đau bụng kinh, kinh nguyệt không đều, ra ít, có cục máu ứ…nếu không chữa để điều chỉnh lại kinh nguyệt, khi lớn tuổi sẽ bị bệnh ung thư hay u xơ tử cung. Những người bị đau đầu, migrain là do thiếu máu lên nuôi não, sau này sẽ bị bệnh ung thư sọ não.

Cần phải uống thuốc bổ máu đông y, sirop Đương Quy Tửu (Tankwe-Gin) để giúp ăn ngon, bổ máu, hết đau nhức mệt mỏi, hết đau bụng kinh, ngừa được bệnh ung thư tử cung, ung thư sọ não.(Xem công dụng và cách dùng Đương Quy Tửu trong Forum khicongydao)

2- Máu có nhiễm độc tố trong gan (nếu áp huyết đủ, không có triệu chứng đau nhức đầu, tay vai) do ăn uống , cần phải tẩy độc gan bằng Trà Phan Tả Diệp (xem bài này trong forum)

3- Thiếu dương khí.

Theo khí công dương khí do chức năng hoạt động của phổi phải mạnh, khí của phổi mạnh do luyện tập thở để tăng cường phế khí đủ để cung cấp năng lượng xuống thận âm, giúp thận âm chuyển hóa khí biến thành thận dương sang bàng quang chuyển khí ra da thịt, giúp da thịt hồng hào, công việc chuyển hóa đó do chức năng của phổi và chức năng của bàng quang kết hợp lại qua trung gian của thận, đông y gọi là vệ khí, khí bảo vệ cơ thể tăng cường hệ miễn nhiễm chống bệnh tật. Riêng chức năng của phổi mạnh cũng sẽ tự bảo vệ được da lông tốt, không bị bệnh ngoài da, theo ngũ hành, độc tố trong gan thuộc mộc theo máu ra da làm da bị hư, đông y gọi là mộc thừa khắc kim (phổi thuộc kim âm, gan thuộc mộc âm ), nhưng nếu phổi mạnh thì kim sẽ phạt mộc, ngăn chặn độc tố không thể nào hại đến da được, lúc đó chính phế kim sẽ đẩy độc tố của mộc xuống kim dương là ruột già để tống độc ra ngoài cơ thể, khi cơ thể được thanh lọc hết độc thì sẽ hết bệnh nám da.

Muốn có dương khí cần phải tập khí công theo băng DVD có trong forum, những bài chính cần tập :

7 bài đầu : Cào đầu, cào gáy, chà gáy, vuốt gáy, vuốt cổ, chà tai, xoa mặt., bài Vỗ tay 4 nhịp, bài cúi ngửa 4 nhịp, vặn mình 4 nhịp, dậm chân phía trước, phía sau. Nằm thở thiền tay đặt tại Đan Điền Tinh, Tập Nạp Khí Trung Tiêu, và Kéo Gối Thở Ra Làm Mềm Bụng. (có DVD hướng dẫn trong forum)

Thuốc dùng ngoài da : Mua 1 gói hoa cúc khô ở tiệm thuốc bắc, chia 10 lần, mỗi lần nấu 1 phần với ½ lít nước dùng hoa chà xát lên chỗ da nám. Trước khi dùng hoa cúc, pha nước muối ấm đắp lên chỗ da nám 15 phút rồi mới dùng đến hoa cúc. Ngày làm 2 lần, cho đến khi hết bệnh. Có thể đắp xác hoa cúc lên da khi đi ngủ.

Kiêng ăn thức ăn chiên xào, cay, nóng, các loại mắm (tôm, mắm nêm, mắm thái, đồ biển, cà phê, coca, nhãn xoài, chôm chôm, sầu riêng…

Read More