Showing posts with label 02 - Y học ẩm thực. Show all posts
Showing posts with label 02 - Y học ẩm thực. Show all posts

Wednesday, October 20, 2010

Những bệnh có thể uống được thuốc bổ máu Đương Quy Tửu (Tankwe gin)

Những bệnh thuộc hư chứng, tây xét xét nghiệm tìm không ra bệnh, nguyên nhân do thiếu khí huyết trầm trọng, áp huyết rất thấp dưới 90/65mmHg, mạch có thể nhanh hay chậm, dễ bị tây y chẩn đoán lầm thành bệnh thần kinh, bệnh si khờ, điên, mất trí nhớ, tê bại liệt, ung thư tử cung, ung thư bao tử, ung thư não, không đủ sức làm việc, hay mệt mỏi, hoa mắt, mắt tối xầm tự nhiên té ngã, chân tay yếu đi hay bị té ngã .Những triệu chứng đó tây y chữa ngọn dưới nhiều tên bệnh khác nhau, nhưng đông y chữa vào gốc bệnh thiếu khí huyết, cần phải bổ khí huyết, khi áp huyết lên được 120-130/75-85mmHg, mạch tim trở lại bình thường 70-80 là khỏi bệnh.

Ngoài phương pháp tập động công, tĩnh công thiền, đông y cho dùng thuốc bổ khí huyết gọi là đương quy tửu những triệu chứng bệnh thuộc ngọn kể trên đều dứt hẳn.

Cách dùng : Thuốc sirop có bán tại các tiệm thuốc bắc dưới tên thương mại là Tankwe gin .Ngày uống 3 lần, sáng, trưa, tối, mỗi lần 1-2 muổng canh với nước ấm. Uống đến khi hết những triệu chứng bệnh và áp huyết được 120-130mmHg thì ngưng, không cần phải uống đến suốt đời..

Đương Quy Tửu (TANKWE GIN, TANGKWEI GIN)

Thành phần :
Đương Quy (Angelicae sinensis)
Xuyên Khung (Rhizoma Chuanxiong)
Thục địa (Rehmanea)
Bạch Thược (Paeoniae Alba)
Đảng Sâm (Codonopsis Pilosulae)
Hoàng Kỳ (Astragali)
Phục Linh (Poria)
Cam Thảo (Glycyrrrhizae(Pyro)
Mật Ong (Honey)

Ở những tiệm thuốc bắc địa phương không có bán loại pha chế sẵn, chúng ta có thể cắt thuốc thang về nhà sắc uống từng thang mỗi ngày theo phân lượng sau :

Đương Quy 12g
Xuyên Khung 12g
Thục địa 12g
Bạch Thược 8g
Đảng Sâm 8g
Hoàng Kỳ 8g
Phục Linh 8g
Cam Thảo 8g

Nước thứ nhất đổ 4 chén nước sắc cạn còn 1 chén , nước thứ hai, đổ 3 chén sắc cạn còn 1 chén. Hai chén hoà chung, chia làm 2 lần, sáng và tối mỗi lần uống 1 chén khi còn nóng ấm.
Ngâm rượu : 5 thang ngâm với 1 lít rượu gạo 40 độ, sau 1 tuần uống được. Sáng và tối, mỗi lần uống 1 muổng canh.
Phụ nữ không uống được rượu nguyên chất thì nấu 5 thang với 1,5 lít nước, khi cạn còn 1 lít, thì đổ thêm 200cc rượu và thêm mật ong vừa đủ ngọt, nấu lại tất cả cho sôi 5 phút rồi lọc lấy nước thuốc cất vào lọ thủy tinh, uống ngày 3 lần, mỗi lần 1 muổng canh.

Công dụng của đương quy :

Phân tích theo Tây y:
Tên khoa học Angelica sinensis. chứa tinh dầu có các hợp chất terpen, phenolic, các chất dẫn phtalid, coumarin, acid hữu cơ vanilic, palmitic, linoleic, nicotimic, sucinic, polysaccharide, các acid amine, vit.B1,B12, E, các nguyên tố Mg, Ca, Al, Cr, Cu, Zn, As, Pb, Cd, Hg, P, Fe, Si, Ni, V, brefedin..Đương quy được phân thành 4 loại : Quy đầu gồm phần đầu của rễ chính, đầu tù và tròn còn mang vết tích của lá. Quy thân là rễ đã loại bỏ phần đầu và đuôi. Quy vĩ là phần rễ phụ hay nhánh. Toàn đương quy gồm cả rễ cái và rễ phụ.
Đương Quy có tác dụng ức chế sự co thắt cơ trơn ruột, chống thiếu máu ác tính, ức chế trực khuẩn dịch hạch, thương hàn, phế cầu khuẩn, ức chế sự ngưng tập tiểu cầu, có khả năng bảo vệ hệ thống miễn dịch làm tăng lượng tế bào lympho T và phục hồi tái tạo hồng cầu, tăng sức đề kháng, ức chế sự giảm tỷ lệ huyết sắc tố, có khả năng điều trị huyết khối não viêm tắc, tăng cường tuần hoàn não bị ứ máu, chống loạn nhịp tim, tăng hoạt tính thực bào. Rễ đương quy có 2 thành phần: một thành phần không có tinh dầu kích thích tử cung làm tăng lượng AND, tăng lượng tiêu thụ oxy của gan, và tăng năng lượng sử dụng glucose của tử cung, một thành phần có tinh dầu khác ức chế tử cung.

Phân tích theo đông y :
Đương Quy có vị ngọt hơi đắng, hơi cay, có mùi thơm, tính ấm, có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, điều thông kinh, dưỡng gân, tiêu sưng, nhuận trường, dùng để chữa bệnh phụ nữ, dùng làm thuốc bổ chữa bệnh thiếu máu xanh xao, đau đầu, cơ thể gầy yếu, suy tim, mệt mỏi, đau lưng, ngực, bụng, viêm khớp, chân tay đau nhức lạnh, tê bại liệt, táo bón, mụn lở ngứa, ứ huyết, kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, sa tử cung, chảy máu, làm thuốc giảm đau chống co giật trong bệnh ung thư.

Công dụng của Xuyên Khung :


Phân tích theo Tây y :
Tên thuốc Radix chuanxiong, tên khoa học Lugusticum chuanxiong Hort.. chứa tinh dầu, nhiều phthalid như ligustilid, butylphthalid, butylidenphtalid làm tăng hoạt tính ức chế co bóp chống loạn nhịp tim và động mạch vành, chất ligustrazin ức chế sự kết tập tiểu cầu, có khả năng chuyển dịch Ca2+ khỏi màng tiểu cầu, làm tăng lưu lượng máu trong động mạch vành làm lực co thắt cơ tim, giảm huyết áp động mạch, tăng áp suất tâm thất trái, nhịp tim, làm giãn mao mạch, chữa bệnh tắc nghẽn mạch máu não, tăng khả năng biến dạng củ hồng cầu, phục hồi hình dạng hồng cầu nhanh hơn, làm tăng tính bền vững của hồng cầu, rễ xuyên khung chống đông máu, ức chế các giai đoạn đông máu nội sinh, giảm áp huyết, nhất là huyết áp động mạch phổi khi phổi bị nghẽn mãn tính ,giảm cholesterol, giảm độ nhớt của máu và huyết thanh, co thắt cơ trơn ruột và có tính lợi tiểu.

Phân tích theo đông y :
Xuyên Khung có vị cay, mùi thơm, tính ấm, vào 3 kinh Can, đởm, tâm bào, lien quan đến bàng quang, màng bao tim, có tác dụng hành khí, điều kinh, hoạt huyết, trừ phong, giảm đau, bổ máu.
Chữa các bệnh nhức đầu, hoa mắt,, cảm, phong thấp đau nhức mỏi, phụ nữ bị rong huyết kéo dài, chữa suy nhược ở người cao tuổi, phụ nữ tiền mãn kinh, rối loạn kinh nguyệt, thiếu máu, đau nhói ngực sườn, viêm đau do chấn thương, khí huyết ứ làm đau đầu, chân tay tê dại đau..
Chống chỉ định : Không dùng dược liệu này trong khi mắc các bệnh xuất huyết và khi kinh nguyệt nhiều, âm hư hỏa vượng không nên dùng..

Công dụng của Thục địa, Sinh địa :


Phân tích theo Tây y:
Thục địa là sinh địa đã sao chế chín, tên gốc là địa hoàng, tên khoa học Rehmannia glutinosa (Gaertn.) Libosch..Địa hoàng có hoạt tính chặn miễn dịch, hạ đường máu nhờ tác dụng của chất iridoid glycoside A,B,C,D, một mặt kích thích tiết insulin, một mặt giảm glycogen trong gan. Trong Địa hoàng có 3 phenethyl alcohol glycoside có hoạt tính ức chế men aldose reductase để ức chế sự hình thành đục thủy tinh thể gây ra bởi biến chứng của bệnh tiểu đường.

Phân tích theo đông y :
Sinh địa có vị ngọt, đắng, tính mát, vào 4 kinh gan, tim, thận, tiểu trường để bổ âm, thanh nhiệt, sinh huyết dịch, mát máu, cầm máu, chữa chứng bệnh âm hư hỏa vượng, triều nhiệt, khô khát nóng uống nước nhiều, tiểu đường, thiếu máu, xuất huyết nội ngoại, cơ thể suy nhược.
Sinh địa chế chín gọi là Thục điạ có vị ngọt, mùi thơm, tính ấm vào 3 kinh tâm, can, thận, chữa âm hư ở gan thận làm đau nhức lưng gối, chóng mặt ù tai, huyết suy, chứng nóng âm ỉ, cơ thể yếu mệt, ho suyễn, tiêu khát tiểu đường, bổ huyết, bổ thận, sinh tinh, làm sáng mắt đen râu tóc, cơ thể tráng kiện.

Công dụng của Bạch Thược :

Phân tích công dụng của Bạch Thược theo Tây y :
Tên khoa học Paeonia lactiflora Pall., tên khác là Mẫu đơn trắng, chứa hoạt chất paeoniflorin, oxypaeoniflorin, albiflorin, benzoyol paeoniflorin, hợp chất triterpen, flavonoid, có tác dụng kháng khuẩn, kích thích co bóp, kháng cholin, giảm đau, điều kinh.

Phân tích theo đông y :
Bạch thược có vị đắng chua, hơi chát vào 3 kinh can tỳ phế, chữa đau bụng, tả lỵ do ruột co bóp, lưng ngực đau, chân tay nhức mỏi, nhức đầu, hoa mắt, viêm mạch huyết khối, tắc mạch máu não, kinh nguyệt không đều, bế kinh, xích bạch đới, tiểu khó.

Công dụng của Đảng Sâm :

Phân tích theo tây y :
Tên khoa học Codonopsis javanica (Blume) Hook.f. Rễ có đường, chất béo, không có saponin, người ta chiết xuất được triterpenglucoside và đặc biệt là các polysaccharide có tác dụng lên hệ miễn dịch, chống viêm, tăng chức năng tủy xương sinh sản tế bào có hoạt tính miễn dịch và dưỡng bào, tăng hồng cầu, giảm bạch cầu, hạ áp huyết ngoại vi và ức chế tác dụng gây tăng áp huyết của adrenalin.

Phân tích theo đông y :
Rễ đảng sâm có vị ngọt, tính bình, có tác dụng chữa tỳ vị suy nhược, phế khí kém, biếng ăn, đại tiện lỏng, thiếu máu, vàng da, tăng bạch cầu, viêm thận, nước tiểu có albumin, chân phù đau.

Công dụng của Hoàng Kỳ :

Phân tích theo Tây y:
Tên khoa học Astragalus membranaceus (Fisch. ) Bunge. Chứa chất polysaccharide giúp tăng hoạt tính interleukin-2 làm tăng thực bào của hệ lưới nội môi và tế bào đa nhân thuộc hệ thống miễn dịch, sinh thêm tế bào và duy trì tuổi thọ tế bào, là loại thuốc hồi dương, giúp tim co bóp bình thường trong trường hợp suy tim, vừa làm giãn mạch tim và mạch thận khiến áp huyết hạ và giúp máu qua thận nhiều hơn vừa bảo vệ mạch không vỡ do chiếu tia X-quang, tăng sự thẩm thấu của huyết tương qua thành mạch. Chất Saponin astramembrannin làm tăng sinh tổng hợp ADN trong gan và trong qúa trình tái sinh gan khi gan bị cắt, ngăn ngừa sự giảm glycogen, có tính kháng khuẩn, trực khuẩn, liên cầu khuẩn, tụ cầu vàng, phế cầu.

Phân tích theo đông y :
Hoàng kỳ có vị ngọt, tính ôn vào 2 kinh phế tỳ, bổ khí, thăng dương, liễm hãm, lợi tiểu, giải độc, chữa thận hư, viêm thận tiểu cầu mãn tính, đái tháo đường, đái đục, phong thấp, đau xương.

Công dụng của Phục linh :

Phân tích theo Tây y :
Tên khoa học Poria cocos Wolf, có chứa hoạt chất Polysaccharide, Pachymaran có tính chất kháng ung thư mạnh, các acid pinicolic, poriatin, adenine, ergosterol, cholin, lecithin, cephalin, histamine, histidin, sucrose, fructose, protease, dầu béo, muối vô cơ, tác dụng lợi tiểu, chống nôn, kháng khuẩn, kháng estrogen, chữa phù thủy thủng, tiêu chảy kéo dài, chữa ung thư bảo vệ tủy xương, cải thiện chức năng gan thận, tăng sức tăng cân, tăng thị lực, tăng cường miễn dịch, tác dụng an thần, chống loét bao tử, hạ đường huyết và bảo vệ gan.

Phân tích theo đông y :
Phục linh vị ngọt nhạt, tính bình, vào các kinh tâm, phế, thận, tỳ, vị, có tác dụng lợi thủy, thẩm thấp, kiện tỳ, định tâm an thần. Chữa suy nhược, chóng mặt, di mộng tinh, lợi tiểu chữa phù thủy thủng, bụng trướng, tiêu chảy, tỳ hư kém ăn, mất ngủ.

Công dụng của Cam Thảo

Phân tích theo Tây y:
Có hai loại mang tên khoa học Glycyrrhiza uralensis Fisch. và G. glabra L. Chứa 4-6% chất vô cơ carbohydrat ( glucose và saccharose ), 3-5% manitol, tinh bột 25-30%, lipid 0,5-1%, asparagin 2-4%, nhựa 5%, có độ ngọt gấp 60 lần saccharose, nếu phối hợp với mía độ ngọt có thể tăng gấp 100 lần. Glycyrhizin gồm có 2 phân tử acid glucuronic và 1 phân tử acid glycyrhetic cấu tạo gần giống như cortisone có nhiều đồng phân chữa được bệnh Addison, có tác dụng chuyển hóa các chất điện giải, giữ natri và clorid trong cơ thể làm tăng áp huyết, giúp sự bài tiết kali. Ở trong cây, glycyrhizin tồn tại ở dạng muối Ca và Mg. Cam thảo có tác dụng gây trấn tĩnh, ức chế thần kinh trung ương, giảm thể nhiệt, giảm hô hấp, giảm ho, giải co thắt cơ trơn, chữa loét đường tiêu hóa bao tử và ruột, bảo vệ gan khi bị viêm gan, tăng tiết mật, chống dị ứng, giải độc mạnh đối với độc tố của bạch cầu, của cá, của nọc rắn, của strychnine, của uốn ván, của cocain và chlorat hydrate. Cam thảo dùng chung với cortisone làm giảm tác dụng của cortisone.

Phân tích theo đông y :
Rễ cam thảo bắc vị ngọt, tính bình, để sống có tác dụng giải độc, tả hỏa, chích cam thảo loại tẩm mật sao vàng có tác dụng ôn trung, nhuận phế, điều hòa các vị thuốc. Riêng cam thảo chữa cảm ho, mất tiếng, viêm họng, mụn nhọt, đau bao tử, ỉa chảy, ngộ độc. Chích cam thảo bổ tỳ vị hư nhược, ỉa lỏng, thân thể mệt mỏi, kém ăn.
Chất Cam thảo và mật ong là 2 chất dùng làm tá dược để trung hòa hóa giải những phản ứng mâu thuẫn gây bất lợi của thuốc đối với bệnh nhân, và giúp thuốc tăng hiệu năng chữa bệnh trong một bài thuốc chiến lược của đông y gồm đầy đủ thành phần chính phụ là Quân, thần, tá, sứ.

-----------------------------------------------------------------------
Nhận xét về hiệu năng của thuốc từ một bệnh nhân :
Thầy ơi, con đã khỏi nhức đầu rồi. Con uống Tankwe Gin xong bình thứ hai thì hết nhức đầu tuy thỉnh thoảng tự nhiên đầu lại nặng một chút (khoảng vài ba phút). Con vẫn tiếp tục uống thuốc (hôm nay là bình thuốc thứ 6). Kỳ kinh vừa qua con chỉ đau bụng sơ sơ, chứng buốt lưng, đau lưng không thấy xuất hiện, còn nhức đầu thì không còn nữa. Con không ngờ thuốc ta lại chữa hay hơn thuốc tây. Trước khi nhờ thầy, con thường xuyên uống tylenol và có đi bác sỹ xin thuốc chữa nhức đầu (loại nặng) để uống. Nhưng con uống thuốc chữa nhức đầu không khỏi, chỉ thấy người say xẫm mà đau đầu vẫn cứ đau đầu. Nhờ trời phụ hộ cho con gặp thầy chẩn bệnh đúng cho thuốc chữa dứt căn bệnh nhức đầu. Nếu không may mắn gặp thầy, con không biết là con có thể cầm cự được bao lâu vì càng ngày căn bệnh nhức đầu của con càng bất trị và càng nặng (kỳ nhức đầu vừa rồi, nó đã chạy xuống tới mũi).
Con chẳng biết nói gì hơn, xin thầy nhận nơi đây lòng biết ơn của con.
Cầu trời luôn phù hộ cho thầy và gia quyến luôn bình an, mạnh khỏe.
Kính
con
JC

Read More

Những bệnh nào có thể dùng thuốc Phụ Tử Lý Trung Hoàn

Bệnh Dương Nuy

Minh có người anh 43 tuổi có triệu chứng đi tiêu chảy buổi sáng sớm, gặp phụ nữ thì không có hứng thú với chuyện tình dục hoặc đang giao hợp thì xìu xuống, thường hay đổ mồ hơi (tự hãn),hay tê tay chân và có khi tê luôn dương vật, theo Minh nghĩ có thể anh ấy thuộc thể thận dương hư kèm khí huyết ứ trệ, Minh xin thỉnh giáo ý kiến các Vị Lương Y có phải là thể thận dương hư không? Nếu cần khai thác thêm triệu chứng gì để chuẩn đoán không?và nếu thể thận dương hư thì mình có thể sư dụng bài Bát vị quế phụ không (anh ấy không có cao huyết áp).
Xin Cảm ơn

--------------------------------------------------------------------------

Chào bạn Minh102c
Trong này có thầy Luanle và thầy Đỗ đức Ngọc có thể giúp bạn. Vậy bạn hãy vui lòng chờ đợi và nhanh chóng trả lời những yêu cầu về bệnh lý của người anh để hai vị này khỏi mất thời gian.
Thí dụ : Trước khi xảy ra những triệu chứng trên , sức khoẻ anh ta thế nào? Bình thường? hay cơ thể tàn tật ốm yếu từ nhỏ. Hoặc vừa trải qua một cơn bạo bệnh và mới khỏi. Có bị bệnh tâm thần không hay có bị bệnh trầm cảm không?
Bị tiêu chảy hay bị chứng đi phân lỏng? Bao nhiêu lần một ngày?
Ăn uống có ngon miệng không, ngủ có đủ giấc không. Có vợ chưa hay độc thân. Trước khi xảy ra bệnh có hứng thú về tình dục không? ( Thủ dâm quá độ cũng gây ra chứng dương bất cử khi gặp hồng nhan, hoặc sử dụng thuốc kích dâm cũng gây ra chứng tê dương vật )
Đã từng uống những loại thuốc gì Tây Y ( kể tên thuốc ra )? Đông Y ( kê tên thuốc ra liều lượng )
Bạn kể vắn tắc quá mấy thầy muốn giúp cũng khó khăn
Bạn ghi là Dương nuy? Có phải ý bạn nói là Dương suy không? Nếu đúng thì bạn sửa lại nhé. Lần đầu tiên tôi thấy chử Dương Nuy nên không biết là nghĩa gì
Mến
Trái Sầu Riêng
---------------------------------------------------------------------------

Trước tiên Minh Cám ơn Trái Sầu Riêng đã quan tâm chỉ giáo.
Sức khoẻ ông anh Minh trước giờ bình thường không bệnh tật hay ốm yếu gì hết
Anh ấy không bị tâm thần hay trầm cảm. Anh ấy đi tiêu chảy, thường vào1 lần buổi sáng sớm,ăn uống bình thường nhưng không thích ăn mỡ hôm qua mình quên đề cập anh ấy đi xét nghiệm triglycerid và cholesterol máu tăng nhẹ. Ngủ thường không đủ giấc vì nghề anh ấy là tài xế, anh ấy có vợ rồi và trước khi bệnh vẫn có hứng thú với chuyện tình dục, Ảnh nói hồi lúc 20 tuổi 1 ngày quan hệ hơn 7 lần mà không thấy bị gì cả.
Anh chưa dùng thuốc tây điều tri, nhưng dùng các thuốc bổ thận theo đông y(anh ta không nói rõ thuốc gì) thì đều bị xuất tinh sớm hay di tinh
Chữ Dương Nuy mình viết vì mình đã từng đọc qua tài liệu y học cổ truyền trong sách diễn tả :
Dương vật xìu không lên khi quan hệ hoặc đang quan hệ không cương cứng được gọi là dương nuy. Nếu có gì
sai xin các thầy chỉ giúp
Xin Cảm ơn
---------------------------------------------------------------------------

Chào bạn Minh102c,
Cám ơn anh TSR đã đặt câu hỏi và 'săn sóc' cho Minh .
Theo như Minh đã tả, tôi nghĩ cũng như M. là ông anh bị thận dương suy yếu, khí yếu với các triệu chứng như đi tiêu lỏng, đổ mồ hôi, liệt dương,... Bị bệnh này thì dùng bài bát vị quế phụ để bổ thận dương là đúng.
Cần phải định bệnh chính xác vì hai loại bệnh (thận dương thận âm) dùng thuốc khác nhau. Nếu muốn kiểm lại tiệu chứng cho chắc ăn thì có thể so sánh với các hội chứng về thận âm và dương như sau :

- Thận âm hư có các triệu chứng biểu hiện ra trên lâm sàng như: bứt rứt, hồi hộp, khó ngủ, người mau quên, tiểu nhiều vào ban đêm, đau lưng, mỏi gối, ù tai, giảm thính lực, hoa mắt, nóng về đêm, ra mồ hôi trộm, người khô khát, cầu táo, tiểu vàng, huyết áp dao động, lòng bàn tay, bàn chân nóng... còn gọi là "Âm hư sinh nội nhiệt". Nhất là quan hệ tình dục không có "lực" hay mất sức, xuất tinh sớm, dù người đàn ông có muốn chăng nữa, nhưng "nó" vẫn không thể làm theo ý muốn

- Thận dương hư, người đàn ông sẽ có một số triệu chứng trên lâm sàng như: thận âm hư, và những biểu hiện nổi bật như di tinh, hoạt tinh, dương nuy bất cử, giao hợp hay bị tình trạng xuất tinh sớm, "không lực", nước tiểu trong dài, tiểu về đêm nhiều, người cảm thấy lành lạnh ở phần thắt lưng và hai chân, hay bị rối loạn tiêu hóa và thường đi cầu vào lúc sáng sớm, có khi lạnh buốt hai chân, lòng bàn tay, bàn chân hay lạnh - tình trạng "Dương hư sinh ngoại hàn".
- Nguồn:h**p://www6.thanhnien.com.vn/TNTS/2008/8/8/255132.tno

Nếu Minh cho biết thêm ông anh đã dùng loại thuốc gì để bổ thận mà bị xuất tinh sớm thì sẽ giúp cho việc chẩn đoán thêm chính xác hơn.
- Nếu lưỡi bị trắng và đóng bợn thì cũng cần phải chữa thêm tỳ vị và bổ khí mới mau khỏi .
Tôi thì nghi ngờ ông anh bị bệnh tỳ vị và cả hai trái thận đều yếu bởi vì theo lời mô tả của ổng (lúc 20 tuổi 1 ngày quan hệ hơn 7 lần ... ) thì có lẽ ổng sử dụng bộ máy nhiều quá cho nên nó mau 'rệu' . Chiếc xe hơi chạy vài trăm ngàn cây là hết, nên nhớ là trái tim ta chỉ đập được bao nhiêu vạn lần mà thôi, và thận của ta cũng chỉ lọc từ máu được một số lượng tinh giới hạn nào mà thôi, sử dụng nhiều quá thì thận chịu không nổi, sẽ bị 'lủng' (di tinh,...).
- Những bệnh do tà khí làm ô nhiễm thì dễ trị hơn, còn những bệnh do cái tánh sanh thì rất khó trị. Điển hình như các ông vua ngày xưa có rất nhiều thầy thuốc giỏi hầu hạ nhưng ông nào cũng mất sớm vì có cả ngàn cung nữ phục vụ.
Luanle

---------------------------------------------------------------------------

Phần phân tích theo Đông Y Khí Công :

Theo định nghĩa Dương Nuy (nuy là teo) là liệt dương, dương sự bất cử. Nguyên nhân do tình dục qúa độ, hoặc thủ dâm làm tinh khí cạn kiệt, mệnh môn hỏa hư không tạo ra tinh, thường mỏi mệt, choáng váng, lưng chân mềm yếu. Một nguyên nhân khác cũng làm cho Mệnh môn hỏa suy yếu là Tâm-Tỳ bị tổn hại, bệnh nhân làm nghề lái taxi, giờ giấc bất thường, có tình trạng bệnh thuộc ngũ lao, như tâm lao thì hại huyết, can lao thì hại thần, tỳ lao hại tiêu hóa ăn không hấp thụ chất bổ, phế lao hại khí, thận lao hại tinh. Năm nguyên nhân dẫn đến ngũ lao, như nhìn lâu hại huyết (tâm), nằm lâu hại khí (phế), ngồi lâu hại cơ nhục (tỳ), đứng lâu hại xương (thận), đi lâu hại gân (gan). Tâm tỳ bệnh cũng còn do nguyên nhân tư lự, lo lắng, giấc ngủ không yên. Thận bệnh do sợ hãi. Triệu chứng đi tiêu chảy vào buổi sáng là thận hư.

Lý luận ngũ hành : Mệnh môn hỏa hư do Tâm Thận bất giao. Tâm hỏa không đủ khí dẫn xuống Mệnh môn tam tiêu để giúp thận âm chuyển hóa. Tâm hư do Tỳ hư vì phải nuôi Tỳ theo quan hệ Mẹ con, nên không còn khí lực giùp Mệnh môn chuyên hoá. Mặt khác thận âm hư vì tinh cạn kiệt lại do phế khí suy nguyên nhân do Tỳ không nuôi phế. Chức năng tỳ hư thì tiêu chảy, tâm hư thi người lạnh, thận hư thì đi tiêu vào lúc sáng sớm.
Bệnh để lâu không chữa đúng gốc bệnh sau này sinh biến chứng Tâm-Phế-Tỳ-Thận hư sẽ phải bị lọc thận.

Nguyên tắc chữa bệnh theo đông y khí công :
Làm mạnh tỳ vị thổ để dưỡng tâm hỏa, thổ là mẹ của kim, giúp phế kim mạnh sinh thận thủy âm và điều dương khí cho đại trường. Dùng Phụ tử tăng hỏa cho Tâm, tiểu trường, Tam tiêu, Mệnh môn để giúp chuyển hóa thận âm hóa khí làm thận dương mạnh, làm điều chỉnh chức năng khí hóa của 12 kinh mạch được điều hòa khiến cho các triệu chứng của bệnh nhân đã kể ở trên dần dần biến mất.

Cách chữa : Dùng Bổ trung ích khí là đúng bệnh, nhưng kết qủa chậm, vì không tăng được hỏa của Tâm và tam tiêu mệnh môn giúp chuyển hóa và phục hồi chức năng Tâm-Thận. Phải dùng bài thuốc : Phụ Tử Lý Trung Hoàn, có bán sẵn ở tiệm thuốc bắc dưới tên thương mại : FU TZU LI CHUNG WAN, loại thuốc tễ được bào chế theo toa thuốc căn bản (academic) Phụ Tử Lý Trung thang nổi tiếng hơn một ngàn năm đến nay.

Thành phần thuốc :Phụ Tử Lý Trung Thang
Bạch Truật   12g
Chích thảo     4g
Phụ tử chế     2g
Càn khương   8g
Đảng sâm    20g

Cách dùng : Đổ 4 chén nước sắc cạn còn 1 chén. Mỗi ngày uống 1 thang khi còn ấm vào buổi tối trước khi đi ngủ.

Phân tích thành phần tính dược của toa thuốc theo đông-tây y :

Bạch truật :

Phân tích công dụng của Bạch truật theo tây y :
Tên khoa học là Atractylodes macrocephala Koidz.,bộ phận dùng là rễ củ, vỏ mầu nâu, ruột trắng ngà ức chế vi khuẩn gây ra bệnh ngoài da, nước sắc của bạch truật có chất glucoside kali atractylat làm hạ đường huyết trong gan xuống thấp có thể tới mức gây co giật, nhưng lượng glycogen trong tim hơi tăng, ức chế sự đông máu, tăng chức năng hoạt động của gan, chống loét các cơ quan thuộc đường tiêu hóa, chống viêm khớp.

Phân tích theo đông y :
Bạch truật có mùi thơm nhẹ, vị ngọt đắng, tính ấm, kiện tỳ, táo thấp, hòa trung, lợi tiểu, giảm phù nhẹ, an thai, chống loét dạ dày, tăng cường chức năng giải độc của gan và chống viêm, nếu bạch truật sao chế với giấm sẽ làm tăng tiết mật. Đông y xem nó như là một loại thuốc bổ chữa các bệnh hư chứng như đau bao tử, giảm đau bụng đầy trướng có cảm giác nóng rát vùng thượng vị làm nôn mửa, giúp ăn được, chữa bệnh chậm tiêu, thấp nhiệt, tiêu chảy phân sống, viêm ruột mãn tính, chữa sốt ra mồ hôi.
Ngày dùng 1,5-3,0 chỉ ( 6g-12g )sắc nước uống.

Chống chỉ định :

Người có bệnh đau bụng do âm hư nhiệt trướng, táo bón, háo khát không dùng được.

Chích thảo :

Phân tích công dụng của cam thảo theo tây y :
Có hai loại mang tên khoa học Glycyrrhiza uralensis Fisch. và G. glabra L. Chứa 4-6% chất vô cơ carbohydrat ( glucose và saccharose ), 3-5% manitol, tinh bột 25-30%, lipid 0,5-1%, asparagin 2-4%, nhựa 5%, có độ ngọt gấp 60 lần saccharose, nếu phối hợp với mía độ ngọt có thể tăng gấp 100 lần. Glycyrhizin gồm có 2 phân tử acid glucuronic và 1 phân tử acid glycyrhetic cấu tạo gần giống như cortisone có nhiều đồng phân chữa được bệnh Addison, có tác dụng chuyển hóa các chất điện giải, giữ natri và clorid trong cơ thể làm tăng áp huyết, giúp sự bài tiết kali. Ở trong cây, glycyrhizin tồn tại ở dạng muối Ca và Mg. Cam thảo có tác dụng gây trấn tĩnh, ức chế thần kinh trung ương, giảm thể nhiệt, giảm hô hấp, giảm ho, giải co thắt cơ trơn, chữa loét đường tiêu hóa bao tử và ruột, bảo vệ gan khi bị viêm gan, tăng tiết mật, chống dị ứng, giải độc mạnh đối với độc tố của bạch cầu, của cá, của nọc rắn, của strychnine, của uốn ván, của cocain và clhorat hydrate. Cam thảo dùng chung với cortisone làm giảm tác dụng của cortisone.

Phân tích theo đông y :
Rễ cam thảo bắc vị ngọt, tính bình, để sống có tác dụng giải độc, tả hỏa, chích cam thảo loại tẩm mật sao vàng có tác dụng ôn trung, nhuận phế, điều hòa các vị thuốc. Riêng cam thảo chữa cảm ho, mất tiếng, viêm họng, mụn nhọt, đau bao tử, ỉa chảy, ngộ độc. Chích cam thảo bổ tỳ vị hư nhược, ỉa lỏng, thân thể mệt mỏi, kém ăn.

Phụ tử chế :

Phân tích theo tây y :
Tên khoa học Aconitum fortunei, tên gọi Ô đầu, tên khác là Phụ tử, Xuyên ô…
Tây y chế Ô đầu dùng làm thuốc chữa ho sưng đau dưới dạng elixir có độc xếp loại bảng A, khi dùng phải cẩn thận. Theo kết qủa thử nghiệm của tây y :

1-Tác dụng với tim mạch :
Chất aconitine rất độc đối với tim, biểu hiện trên điện tâm đồ đầu tiên làm giảm nhịp tim sau đó dẫn truyền nhị thất bị phong bế, xuất hiện ngoại tâm thu, nhịp nhanh thất, rung thất, cuối cùng tim ngừng đập do tính hưng phấn của cơ tim tăng cao. Nhưng sản phẩm thủy phân của aconitine là aconine lại có tác dụng cường tim và độc tố của nó rất thấp không đáng kể 1/400. Trong Ô đầu có nồng độ Ca++ 0,24% , nhưng dùng các biện pháp hóa học loại Ca++ thì tác dụng cường tim biến mất và giảm độc tính.

2-Tác dụng với áp huyết :
Nước sắc phụ tử gây giãn mạch máu và mạch vành nên làm hạ áp huyết được một thời gian ngắn. Phụ tử có thành phần Ester có tác dụng tăng cường chuyển hóa lipid no và cholesterol, làm giảm hiện tượng lipid bám vào vách thành mạch, giảm lipid và cholesterol trong máu dùng trong điều trị xơ vữa động mạch vành có kết qủa.

3-Tác dụng giảm đau :

Alcaloid trong phụ tử có tác dụng giảm đau, ức chế dẫn truyền các xung thần kinh. Với liều cao làm tê liệt thần kinh mất khả năng dẫn truyền.

4-Tác dụng với hệ thần kinh :

Phụ tử gây cảm giác kích thích da nóng và bị ngứa. Liếu cao gây tê dại và ức chế trung khu hô hấp.

5-Tác dụng chống viêm :

Alcaloid có tác dụng ức chế hiện tượng tăng tính thẩm thấu của thành mạch, có tác dụng chống viêm khớp và sưng phù bàn chân, làm giảm lượng acid ascorbic trong tuyến thượng thận, làm giảm lượng bạch cầu ưa acid trong máu ngoại vi do phụ tử kích tuyến thượng thận để chống viêm có hiệu qủa.

6-Các tác dụng khác :

Alcaloid của phụ tử thúc đẩu qúa trình sinh tổng hợp protein RNA trong tế bào gan bằng  cách tăng cường hoạt độ men RNA polymerase. Chất glycan của Ô đầu như aconitan A,B,C,D có tác dụng làm hạ đường huyết.

7-Liều độc của Ô đầu 5-15g, phụ tử 25-100g aconitine. Triệu chứng ngộ độc như lưỡi tê, chảy nước bọt, nôn mửa, đi cầu, đau đầu chóng mặt, môi và chân tay tái tím, mạch chậm yếu, hô hấp khó khăn, thần trí không minh mẫn, tiêu tiểu không ự chủ, huyết áp hạ nhanh, than nhiệt thấp, loạn nhịp tim.

Trên lâm sàng tây y dùng Atropin hay Chlorid calci để giải do ngộ độc phụ tử. Qua thử nghiệm, phụ tử nấu chung với Cam thảo và gừng khô (Càn khương) làm giảm được độc tố của phụ tử rất nhiều.

Phân tích theo đông y :
Phụ tử là những củ nhánh bám vào một củ lớn tên là Ô đầu, khí nóng, vị cay, ngọt, rất độc được tây y xếp vào loại độc bảng A, tính của Phụ tử kỵ với 5 vị thuốc khác không được dùng chung như  Bán Hạ, Qua lâu, Bối mẫu, Bạch liễm, Bạch cập. Phụ tử sản xuất ở Tứ Xuyên, sắc đen, da mỏng, sớ thịt nhỏ mà chắc, được gọi là Hắc Phụ Tử. Củ to khi còn tươi nặng hơn 2 lạng. Vì nó có độc nên được chế biến cho hết độc, trọng lượng chỉ còn lại 1/4 gọi là Phụ tử chế.

Cách chế : Ngâm Phụ tử vào nước sôi cho bở ra, gọt bỏ vỏ, cắt núm, bổ ra làm 2-3 miếng nhỏ rửa sạch lại bằng nước muối, mỗi ngày ngâm nước sôi, rửa nước muối một lần trong 10 ngày, sau đó đem phơi ráo rồi thái mỏng, bỏ vào chảo đất sao cho chin làm mất chất độc, rồi tẩm với Cam thảo và đậu đen để giải độc xong đem phơi hay sấy khô trước khi dùng. (Muối ngâm để rút chất độc của Phụ tử rất độc, ăn phải muối này sẽ chết không cứu được).

Phụ tử chế dùng để cứu cấp những bệnh nan y do tính khí của nó chạy khắp mọi chỗ trong kinh mạch, không nơi nào mà không đến được. Công dụng của Phụ tử chế theo kinh nghiệm của đông y, dùng để chữa các bệnh cấp cứu hồi dương sau đây :
Người mất sức nóng, cơ thể tứ chi lạnh dần, dương khí thoát, hơi thở lạnh, đại tiểu tiện không cầm, mất mạch dần, không đo bắt được mạch đập, chân tay môi miệng lạnh thâm, thần kinh vận động tê mất cảm giác, mất tri giác, da nổi gân xanh, sút kém thể lực, da thịt nhẽo, tạng phủ mất chức năng hấp thụ và chuyển hóa, thận không lọc đi tiểu ra trắng trong không mùi khai mà như mùi nước gạo thối, thoát dương lạnh trong ruột lạnh ra, đi tả như tháo chảy, phổi lạnh suyễn hơi thở ra lạnh, trúng phong mê man bất tỉnh, xuất mồ hôi lạnh, trong ngoài tạng phủ đều lạnh.

Rất tốt để phục hồi chân hỏa của Mệnh môn, Kinh Tam tiêu, thong 12 kinh lạc, trục phong hàn thấp tà, ho hắng khí nghịch do thời tiết lạnh, chân tay lạnh co quắp yếu không cử động, trục những bệnh trưng hà (một loại ung thư của tây y là những khối u đóng cục do hàn kết ở bụng), làm ấm tỳ vị, đau bụng lạnh ói ra giun, bế kinh do huyết hàn, cột sống lưng đau cứng lạnh toát do hàn. Chức năng chính của nó là công tà phục hồi chính khí.

Phụ tử và Nhân sâm là hai vị thuốc phối hợp theo Quân thần, các vị khác dùng làm Tá, Sứ, nhưng tính khí của Phụ tử rất mạnh, chỉ dùng phân lượng ít, Khi dùng nó một thời gian thấy cơ thể nóng, chóng mặt nhức đầu, táo bón là phải ngưng, không cần thiết phải dùng đến Phụ tử.

Chống chỉ định :

Chứng âm hư nội nhiệt, nhiệt giả hàn và phụ nữ có thai không dùng được, vì tính nóng, chạy mạnh sẽ làm hư thai.

Càn khương :

Phân tích theo tây y :
Tên khoa học Zingiber officinale Roscoe, theo kinh nghiệm thử nghiệm của tây y, gừng có tác dụng :
Chất Cineol của gừng gây giãn mạch, tăng tỷ lệ protein toàn phần và gamma globulin, ức chế hoạt tính của histamine và acetylcholin giảm mức độ co thắt cơ trơn ruột, giảm cơn dị ứng, diệt khuẩn. Bột rễ gừng có tác dụng chữa mắt hột tốt hơn nhiều thuốc khác làm giác mạc bị biến đổi trở nên trong, làm tăng hoạt tính sống của mô mắt, giảm sự thẩm thấu dưới niêm mạc, trong gừng có yếu tố kháng histamin, ức chế thần kinh trung ương, tăng thờI gian gây ngủ của thuốc barbituric, chất shogaol và gingerol làm giảm sốt, giảm đau, giảm ho, chống co thắt, chống nôn, chống loét đường tiêu hóa, kích thích tuyến nước bọt, tăng vận chuyển bari sulfat trong đường tiêu hóa, ức chế tăng tính thẩm thấu các mao quản để chống viêm. Nếu ăn gừng cùng với những thức ăn có cholesterol thì gừng làm ngăn chặn sự tăng cholesterol trong máu, ức hế những thương tổn trong bao tử, kích thích bao tử dễ tiêu hóa, chống say sóng, ức chế men cyclooxygenase, điều hòa và kích thích miễn dịch

Phân tích theo đông y :
Gừng có tác dụng ôn trung, trục hàn, hồi dương, thông mạch. Công dụng theo từng loại:
1-Gừng tươi (sinh khương) vị cay, nóng, mùi thơm, tính ấm. Dùng để chữa cảm mạo phong hàn, nhức đầu, ngạt mũi, ho có đờm, nôn mửa, bụng đầy trướng, sát trùng, giải độc ngứa do vị thuốc bán hạ gây ra hay giải độc do cua, cá, chim, thú độc.. Dùng làm thuốc xoa bóp chữa sưng phù, đắp ngoài vết thương. Dùng làm gia vị kích thích tiêu hóa, tăng bài tiết.
2-Gừng khô (càn khương) vị cay, nóng, mùi thơm hắc. Chữa đau bụng lạnh, bụng đầy trướng không tiêu, thổ tả, chân tay gía lạnh, mạch nhỏ, đàm ẩm, ho suyễn, thấp khớp.
3-Gừng nướng (bào khương) vị cay, đắng, tính đại nhiệt. Chữa đau bụng, bụng lạnh tiêu chảy nhiều.
4-Gừng đốt cháy tán thành bột (thán khương) vị cay, mùi thơm hắc, tính ấm.Chữa đau bụng lạnh, máu hàn, tay chân lạnh, nhức mỏi, tê bại, băng huyết.
5-Vỏ gừng (bì khương): vị cay, mát. Chữa phù thủng.
6-Lá gừng : Dùng để bọc thức ăn chống hư thối.
Chống chỉ định :Những bệnh như âm hư nội nhiệt sinh ho, biểu hư làm ra mồ hôi nhiều hoặc mất máu không nên dùng.

Đảng sâm :

Phân tích công dụng của đảng sâm  theo tây y :
Tên khoa học Codonopsis javanica (Blume) Hook.f. Rễ chứa đường, chất béo, không có saponin, người ta chiết xuất được triterpenglucoside và đặc biệt là các polysaccharide có tác dụng lên hệ miễn dịch, chống viêm, tăng chức năng tủy xương sinh sản tế bào có hoạt tính miễn dịch và dưỡng bào, tăng hồng cầu, giảm bạch cầu, hạ áp huyết ngoại vi và ức chế tác dụng gây tăng áp huyết của adrenalin.

Phân tích theo đông y :
Rễ đảng sâm có vị ngọt, tính bình, có tác dụng chữa tỳ vị suy nhược, phế khí kém, biếng ăn, đại tiện lỏng, thiếu máu, vàng da, tăng bạch cầu, viêm thận, nước tiểu có albumin, chân phù đau.

Ghi chú :
Những bệnh nhân đang bị lọc thận một tuần 3 lần, mà có những triệu chứng như chỉ mành treo chuông, cơ thể từ từ suy nhược, tinh thần giảm sút, mắt mất thần, người lạnh, ăn uống suy giảm, mất ngủ, mạch nhỏ, cơ thể trơ xương nhưng chân tay và mặt phù thủng to phình ra do ứ nước, không đi đứng cử động được. Đông y thường dùng Phụ Tử Lý Trung Hoàn để cứu tử hồi sinh, các triệu chứng trên sẽ biến mất. Đã có nhiều bệnh nhân được bác sĩ cho giảm dần số lần lọc thận, cho đến khi khỏi hoàn toàn không cần thiết phải lọc thận nữa. Cơ thể khỏe mạnh, ăn uống đi lại bình thường.

Những Thầy thuốc đông y giỏi đã biết phân tích tính khí vị của thuốc và lý luận ngũ hành để chọn thuốc chữa gốc bệnh, và nguyên nhân gây ra bệnh. Nên những triệu chứng của bệnh trên cần phải phục hồi chức năng tỳ vị để chữa gốc bệnh, mặc dù sự chỉ dẫn trên toa thuốc FU TZU LI CHUNG WAN ghi chủ trị chỉ có một vài bệnh tượng trưng như các bệnh gastric debility, dyspepsia, asthma, abdominal ache, vertigo...là do yêu cầu của Cơ Quan Y Tế, và trong thành phần toa thuốc không ghi chữ Phụ Tử là chất độc bảng A theo Tây y, nên được ghi thay thế bằng chữ Quế.
Thị trường có nhiều loại Phụ Tử Lý Trung Hoàn do nhiều Hãng Dược khác nhau sản xuất nhưng công hiệu để chữa bệnh giống nhau.

doducngoc

Read More

Kinh nghiệm Đông Y : Những bệnh chữa bằng Gừng

A-Phân tích tính dược của Gừng theo tây y :

Tên khoa học Zingiber officinale Roscoe, theo kinh nghiệm thử nghiệm của tây y, gừng có tác dụng :Chất Cineol của gừng gây giãn mạch, tăng tỷ lệ protein toàn phần và gamma globulin, ức chế hoạt tính của histamine và acetylcholin giảm mức độ co thắt cơ trơn ruột, giảm cơn dị ứng, diệt khuẩn. Bột rễ gừng có tác dụng chữa mắt hột tốt hơn nhiều thuốc khác làm giác mạc bị biến đổi trở nên trong, làm tăng hoạt tính sống của mô mắt, giảm sự thẩm thấu dưới niêm mạc, trong gừng có yếu tố kháng histamin, ức chế thần kinh trung ương, tăng thờI gian gây ngủ của thuốc barbituric, chất shogaol và gingerol làm giảm sốt, giảm đau, giảm ho, chống co thắt, chống nôn, chống loét đường tiêu hóa, kích thích tuyến nước bọt, tăng vận chuyển bari sulfat trong đường tiêu hóa, ức chế tăng tính thẩm thấu các mao quản để chống viêm. Nếu ăn gừng cùng với những thức ăn có cholesterol thì gừng làm ngăn chặn sự tăng cholesterol trong máu, ức hế những thương tổn trong bao tử, kích thích bao tử dễ tiêu hóa, chống say sóng, ức chế men cyclooxygenase, điều hòa và kích thích miễn dịch

B-Phân tích tính dược và kinh nghiệm chữa bệnh bằng Gừng theo đông y :

Gừng có tác dụng ôn trung, trục hàn, hồi dương, thông mạch. Công dụng theo từng loại:

1-Gừng tươi (sinh khương) vị cay, nóng, mùi thơm, tính ấm. Dùng để chữa cảm mạo phong hàn, nhức đầu, ngạt mũi, ho có đờm, nôn mửa, bụng đầy trướng, sát trùng, giải độc ngứa do vị thuốc bán hạ gây ra hay giải độc do cua, cá, chim, thú độc.. Dùng làm thuốc xoa bóp chữa sưng phù, đắp ngoài vết thương. Dùng làm gia vị kích thích tiêu hóa, tăng bài tiết.
2-Gừng khô (càn khương) vị cay, nóng, mùi thơm hắc. Chữa đau bụng lạnh, bụng đầy trướng không tiêu, thổ tả, chân tay gía lạnh, mạch nhỏ, đàm ẩm, ho suyễn, thấp khớp.
3-Gừng nướng (bào khương) vị cay, đắng, tính đại nhiệt. Chữa đau bụng, bụng lạnh tiêu chảy nhiều.
4-Gừng đốt cháy tán thành bột (thán khương) vị cay, mùi thơm hắc, tính ấm.Chữa đau bụng lạnh, máu hàn, tay chân lạnh, nhức mỏi, tê bại, băng huyết.
5-Vỏ gừng (bì khương): vị cay, mát. Chữa phù thủng.
6-Lá gừng : Dùng để bọc thức ăn chống hư thối.

Chống chỉ định : Những bệnh như âm hư nội nhiệt sinh ho, biểu hư làm ra mồ hôi nhiều hoặc mất máu không nên dùng.

C-Ứng dụng kinh nghiệm chữa bệnh của đông y trong dân gian

1-Bao tử hư hàn sinh đờm dãi đưa lên chặn cổ không ho không thở được, làm chóng mặt quay cuồng :
Dùng Gừng khô 10g, Chích Cam thảo 5g. Đổ 3 chén nước sắc cạn còn 1 chén, uống nóng ấm.

2-Bụng trướng nước (tỳ thấp thủy trướng), tay chân phù, ăn không tiêu, sợ nước, sợ lạnh :
Gừng tươi 150g băm nhỏ, rang khô giòn rồi trộn với 50cc mật ong, đậy ủ kín lại. Sau đó cho bệnh nhân ăn dần cho hết trong ngày, sẽ bớt phù. MỗI ngày ăn 1 lần cho đến khi hết bệnh.

3-Chữa cảm hàn rét run, đau lạnh bụng, ói mửa, tiêu chảy tóe ra nước :
Gừng khô và Riềng khô mỗi thứ 15g cho 3 chén nước sắc cạn còn 1 chén, uống nóng ấm.

4-Cảm nhiệt, sổ mũi, ngạt mũi, ho đờm, gai sốt :
Gừng tươi và Hành lá mỗi thứ lấy 15-20g, sắc lấy nước , lấy ra 1 ly để uống, còn lại để xông hơi vào mũi. Nếu thân nhiệt sốt cao, cũng dùng Gừng Hành nấu thành một nồi nước , trùm mền ( nylon) xông yoàn thân cho xuất mồ hôi.

5-Cảm hàn làm nhức đầu, ho cảm :
Gừng tươi giả nhỏ bọc vào mớ tóc rối, tẩm rượu trắng, xào nóng, bọc vào khăn, chà xát vào những chỗ đau nhức mỏi ở vùng gổ gáy, vai lưng, ngực, cánh tay…, đông y gọi là đánh gió.

6-Chữa đau tim :
Dùng gừng sấy khô tán bột 4g uống với nước cơm, ngày 2 lần

7-Chữa đau đầy bụng, tiêu chảy :
Gừng sấy khô tán bột 3g uống với nước cơm, ngày 2 lần.

8-Chữa ho lâu ngày, ợ hơi, nôn oẹ :
Gừng tươi giã lấy nước cốt chừng 1 muổng cà phê, pha với 1 muổng cà phê mật ong. Đun nóng uống . Ngày làm 3 lần sáng trưa tối.

9-Chữa kiết lỵ ra máu :
Gừng khô nướng tồn tính 3g tán bột uống với nước cơm hay cháo, ngày uống 3-4 lần.

10-Chữa nôn mửa, nấc cục :
Gừng tươi nhai ít một từ từ trong rồi nuốt dần cho đến khi khỏi bệnh.

11-Chữa nhức đầu, lạnh bụng, nôn oẹ, có đờm:
Gừng khô 10g, Chích Cam thảo 4g (mua ở tiệm thuốc bắc). Cho 300cc nước sắc cạn còn 100cc, chia uống nhiều lần trong ngày.

12-Chữa sâu bọ vào tai :
Gừng tươi, Hành lá, Lá Hẹ, mỗi thứ 1 ít giã vắt lấy nước cốt nhỏ vào tai.

13-Chữa viêm rễ thần kinh thắt lưng-xương cùng, tiểu đêm nhiều ở tuổi già :
Gừng tươi 8g, Phục linh 8g, Bạch truật 4g, Cam thảo 4g. Đổ 600cc nước nấu cạn còn 200cc, chia 3 lần uống trong ngày.

14-Đi cầu kiết lỵ do hàn, ra phân xanh:
Gừng khô thái 3-4 lát rồi cắt nhỏ bằng hạt đậu , ăn với nước cơm, ngày ăn 3 lần, đêm ăn 1 lần.

15-Kiết lỵ ra máu chữa hoài không khỏi :
Gừng khô sao cháy đen tồn tính, để cho nguội mất hết hơi hỏa độc rồi tán bột, mỗi lần uống 4g với nước cơm, rất là thần hiệu.

16-Sốt rét báng tích :
Tỳ vị hư hàn để lâu sinh bụng phình to chứa nước, làm cữ cơn sốt rét. Dùng thán khương tồn tính 12g uống với rượu đun nóng, uống chặn trước khi phát cơn sốt rét

17-Tỳ vị hư hàn người lạnh, đi cầu ra nước (thủy tả) :
Gừng khô tán bột 8g uống với nước cháo.

Read More

Kinh nghiệm chữa bệnh tiểu đường bằng ăn uống trong dân gian

Đo kiểm chứng lượng đường trước và sau khi dùng những phương pháp này :

1- Một ít gừng khô và 1 túi mật con cá diếc hay cá chép nấu với 1 nắm gạo tẻ thành cháo ăn mỗi sáng.
Công dụng : Làm hạ can nhiệt, trừ thấp và phục hồi chức năng chuyển hóa tỳ vị để điều chỉnh lượng đường trong máu .

2- Hai lát gừng tươi, muối 4g, trà xanh 6g cho 5 lít nước nấu cạn còn 2 lít thành nước trà, uống dần trong ngày.
Công dụng : Làm hạ can hỏa và táo thấp trong cơ thể để chữa bệnh tiểu đường, tiêu khát, tiểu nhiều, nóng nảy cáu gắt.

3- Hành lá 100g trộn dầu dấm.
Sau khi rửa và trụng hành vào nước sôi, cắt hành cho nhỏ thành sợi trộn với dầu dấm ăn như sà lách trộn, ăn chung với bữa cơm ngày 2 lần.
Công dụng : Chữa tiểu đường tiêu khát, tiểu nhiều, ăn nhiều mà vẫn gầy ốm.

4- Một bao tử heo cắt nhỏ, 3 củ khoai sọ hay khoai tây cắt khoanh đem xào với hành lá và gừng thái nhỏ để làm thành 1 đĩa thức ăn, ăn với cơm ngày 2 lần.
Công dụng : Chữa bệnh tiểu đường đi tiểu nhiều.

Read More

Kinh nghiệm Đông y - Những bệnh chữa bằng Sơn Tra

Kinh nghiệm Đông y-Những bệnh chữa bằng Sơn Tra

A-Phân tích công dụng của Sơn tra theo đông tây y :

Tên khoa học Malus doumeri (Bois.)A.Chev..tên khác là chua chát, chứa tannin, đường, acid tatric, citric, vị chua ngọt, chát, tính bình, vào các kinh can, tỳ, vị, có công dụng kiện tỳ, kích thích tiêu hóa ăn ngon miệng, hóa tan máu cục, tan chất béo, dầu mỡ, cholesterol, đờm dãi, đuổi uất khí làm nhẹ ngực, tiêu tích trệ, tán cơ, làm tăng men tiêu hóa trong trường vị, thu liễm, giảm đau bụng do không tiêu, do ứ huyết, xuất huyết, bệnh trĩ, bảo vệ tim. Dùng chữa bệnh ăn không tiêu bụng đầy trướng, ợ chua, kiết lỵ, mồ hôi trộm.

Nước sơn tra trừ cholesterol phòng ngừa cao áp huyết :

Mỗi ngày nấu 5-10 qủa sơn tra khô uống như nước trà sau mỗi bữa ăn, sau một tuần cholesterol xuống. Nếu uống tiếp tục sẽ giảm mỡ bụng và giảm mập.

Những người có bệnh biếng ăn, ốm yếu, nên uống trước bữa ăn sẽ kích thích ăn ngon.
Những người ăn được nhưng chậm tiêu, hoặc người mập, bụng nhiều mỡ, muốn bớt mỡ bụng, giúp tiêu hóa nhanh, nên uống sau bữa ăn. Cả hai cách uống trước hay sau cũng làm hạ áp huyết xuống bình thường sau thời gian 1 tháng.
Nếu chúng ta đang dùng thuốc tây y chữa bệnh cao áp huyết cũng vẫn dùng trà sơn tra được, nhưng phải đo áp huyết để kiểm soát mỗi ngày, đừng để áp huyết xuống dưới 120/70mmHg, vì trà sơn tra là loại dược thảo chữa bệnh cao áp huyết tương đương như loại thuốc trị áp huyết của tây y.

B-Ứng dụng kinh nghiệm đông y trong dân gian :

1-Đau bụng sau khi sanh còn huyết ứ :
Dùng Sơn Tra 100g sắc kỹ thêm đường vừa phải, uống lúc bụng đói rất công hiệu.

2-Ăn nhiều thịt bụng không tiêu đầy trướng tức :
Dùng Sơn Tra nhục (Sơn tra bỏ hột) nấu kỹ, ăn cả nước lẫn cái làm tiêu tích thực.

3-Chữa sán khí sa xệ ruột ở bẹn háng làm đau :
Dùng Sơn Tra nhục, Hồi hương mỗi thứ 1 lạng sao khô tán bột, mỗi lần uống 1 muỗng cà phê với nước sôi.

4-Trường phong hạ huyết :
Do phong nhiệt tích chứa ở trường vị lâu ngày làm đi cầu ra huyết như nước chảy, đỏ tươi, không đau hậu môn :
Dùng Sơn Tra khô tán bột, 1 muỗng cà phê, uống với nước sắc ngải cứu khô 5g là khỏi.

5-Chữa bệnh đau lưng, đùi ở người già :
Dùng Sơn Tra và Lộc nhung, 2 vị bằng nhau nướng tán thành bột trộn với mật ong làm thành viên nhỏ bằng hạt ngô, ngày dùng 2 lần, mỗi lần 10 viên uống với nước nóng pha chút rượu để dẫn thuốc.

Read More

Kinh nghiệm Đông y - Những bệnh chữa bằng Râu bắp

A-Phân tích tính dược theo đông tây y :

Phân tích công dụng của Râu bắp theo tây y :
Tên khoa học Zea mays L., tên khác là bắp. Râu bắp chứa chất béo, tinh dầu, chất keo. chất nhựa, glucoside đắng, saponin, cryptoxanthin, Vit. C, K, sitosterol, stigmasterol, acid hữu cơ, anthocyan. Có tác dụng lợi tiểu, tăng thải trừ clorid, tăng tiết mật, làm giảm lượng bilirubin và tăng prothrombin trong máu. Râu ngô trong dạng chế phẩm ủ lên men có tác dụng hạ đường huyết.
Phân tích theo đông y :
Râu bắp và ruột bấc trong thân cây ngô có vị ngọt, tính bình, vào 2 kinh thận và bàng quang trị đái vàng rắt buốt, bí tiểu, viêm tiết niệu, tiểu ra máu, xuất huyết nội tạng, sạn trong gan, mật, thận, sạn niệu, bàng quang, phù thủng, làm hạ áp huyết, làm thông mật trong điều trị gan mật, sỏi mật, vàng da.

B-Ứng dụng kinh nghiệm đông y trong dân gian :

1-Chữa cao áp huyết :
Uống nước luộc bắp mỗi ngày 2-3 lần, mỗi lần 200cc cho đến khi áp huyết trở lại bình thường và ổn định.
.
2-Chữa cao áp huyết, viêm gan mật, bí tiểu:
Dùng 30g râu bắp với 300cc nước sắc cạn còn 100cc, uống 1 lần mỗi ngày

3-Chữa nhiễm khuẩn đường niệu, sưng phù, bệnh thận, nội tạng xuất huyết :
Đã có một bệnh nhân nằm điều trị trong bệnh viện, chân sưng phù, đại tiểu tiện ra huyết do xuất huyết nội tạng liên tục hơn 1 tuần lễ, nhưng tìm không ra nguyên nhân, tây y tiếp tục xét nghiệm tìm theo hướng nghi ngờ ung thư. Tôi đề nghị mua 2 pounds râu bắp khô ở tiệm thuốc bắc, mỗi lần sắc 0,5 pound với 2 lít nước cạn còn 300cc, uống vào sáng và chiều trong 2 ngày. Chứng xuất huyết nội tạng, tiêu tiểu ra máu và chân sưng phù đã khỏi, bệnh nhân được xuất viện.

4-Chữa tiểu đường :
a-Dùng hạt bắp nhúng nước ủ cho mọc mầm. Dùng mầm khô sấy khô tán bột, uống mỗi ngày 20-30g uống vớI nước canh rau khoai lang.
b-Ăn chè bắp non nấu vớu củ mài (hoài sơn).
c-Ăn canh rau khoai lang đỏ mỗi ngày.

5-Chữa viêm gan, tắc mật, vàng da, tiểu vàng, đại tiểu tiện ra máu, phù thủng, viêm thận cấp :
Sắc 40g râu ngô khô (mua ở tiệm thuốc bắc) uống như nước trà trong ngày.

Read More

Những thử nghiệm những thức ăn uống làm tăng hay giảm lượng đường trong máu

Mỗi sáng tôi thường ăn bánh mì và uống 1 ly cà phê sữa, khi đến phòng mạch, tôi đo lượng đường lên khoảng 10. nhưng khi tôi tập khí công để hướng dẫn bệnh nhân tập theo, sau 3 giờ đo lại đường xuống dưới 6.0 cho nên không bao giờ phải để ý đến bệnh tiểu đường.

Có những ngày không kịp ăn sáng, đến trưa ra tiệm ăn, về đo đường lên 12.5mmol, và sau mỗi khi tập khí công bài chữa tiểu đường 20 lần, đo thử lại đường xuống được khoảng 2.0, tập lần thứ nhất xuống còn 10.5, tập lần thứ hai, xuống còn 8.2, tập lần thứ ba xuống còn 5.8.

Khi không có thời giờ rảnh nhiều để đi ăn trưa, tôi mua bánh bao thập cẩm, ăn xong rồi đo đường có 5.7 nên không cần tập, ngày hôm sau thử ăn lại bánh bao một lần nữa, đo đường có 5.4, như vậy có nghĩa là bánh bao không làm tăng lượng đường.

Hôm sau tôi thử ăn một cái bánh sandwich nho, đo đường lên 7.9, tôi không cần tập, 2 giờ sau đo lại đường tự động xuống 5.9.

Tôi nghĩ rằng ngoài cách tập khí công làm hạ đường trong máu, cần phải tìm thêm những phương pháp khác giúp cho những người gìa không thể tập luyện được. Tôi uống thử gói Trà Sơn Tra là loại trà tôi hay dùng để làm hạ cholesterol, tan mỡ bụng..

Tôi ăn trưa bằng một bánh sandwich với 1 ly cà phê, sau 30 phút đo lượng đường là 12.8 tôi không cần tập khí công, mà pha 1 ly trà Sơn Tra uống, sau 1 giờ đo dường xuống 9.0, sau 1 giờ nữa đường xuống 7.1 sau 1 giờ nữa đo đường xuống còn 5.7.

clip_image002

clip_image004

clip_image006

Trưa ngày hôm sau, tôi ăn bánh mì thịt Việt Nam, đo đường lên 12.0, ăn xong uống l ly Trà Sơn Tra, đến 6 giờ mới đo đường, xuống còn 5.4mmol.

clip_image008

clip_image010

Read More