Showing posts with label Câu chuyện đông y tập 1. Show all posts
Showing posts with label Câu chuyện đông y tập 1. Show all posts

Wednesday, October 6, 2010

CCĐY 1 – BẠN CÓ TIN Ở ĐÔNG Y KHÔNG?

Có người trả lời có, có người trả lời không. Tại sao vậy?

Người trả lời có, cho rằng một số bệnh thực tế đông y chữa có kết qủa hơn tây y.

Người trả lời không, cho rằng đông y chữa không có cơ sở khoa học, chữa tùy tiện theo ý riêng tư của mỗi thầy thuốc, không thống nhất theo một tiêu chuẩn nên không đáng tin cậy.

Quan điểm của người bệnh thì sao ?

Bệnh nhân là những người bị thiệt thòi nhất, vì không đủ kiến thức trong hai phương pháp chữa để quyết định chọn theo phương pháp nào cho thích hợp với bệnh của mình, còn nếu tham khảo với các thầy thuốc thì lại càng hoang mang, tây nói theo tây, ta nói theo ta, giống như tục ngữ đã có câu ông nói gà bà nói vịt, không có điểm nào tương đồng.

Sở dĩ Đông y và Tây y có mâu thuẫn đối nghịch là do ở tư tưởng bảo thủ cố chấp có thành kiến sâu nặng thiên lệch ở vấn đề giáo dục và đào tạo thầy thuốc. Người bệnh chỉ mong muốn bệnh của mình được chữa khỏi bằng bất cứ phương pháp nào tối ưu nhất, họ sẽ tin tưởng hơn vào người thầy thuốc nào có đầy đủ kiến thức và khả năng của cả hai phương pháp chữa bệnh đông y và tây y để có kinh nghiệm trong cách điều trị. Họ mong muốn thầy thuốc phải được học cả hai phương pháp để dung hòa giải quyết những mâu thuẫn trên lâm sàng, theo dõi những kết qủa thử nghiệm có tính khoa học để chứng minh được từng loại thuốc tây hay ta, cách chữa tây hay ta, thức ăn uống tây hay ta, cái nào đem lại nhiều kết qủa trong điều trị có lợi cho bệnh nhân, chứ không phải là những mâu thuẫn tưởng tượng không thực nghiệm trên lâm sàng.

Nếu không phải vì lý do tranh chấp để bảo vệ quyền lợi kinh tế, quyền lợi nghề nghiệp và địa vị riêng của mình, những thầy thuốc lãnh đạo trong ngành giáo dục và đào tạo nên có tinh thần cởi mở mạnh dạn đưa cả hai phương pháp đông tây y vào trong chương trình đào tạo thầy thuốc cả y và dược, thì các thầy thuốc sau này sẽ là những thầy thuốc giỏi, thống nhất trên quan điểm khám định bệnh và phương pháp chữa sẽ không còn mâu thuẫn, hoặc nghi ngờ trong cách chữa của nhau nữa.

Cho nên hiện nay ở Trung Quốc,đã là quốc gia đi tiên phong kết hợp Đông tây y trong việc đào tạo thầy thuốc ,ngành Tây y và ngành dược phải học cả phương pháp của đông y cổ truyền, thuốc đông y cổ truyền, và phải được công khai hóa ,điều chế theo tiêu chuẩn cố định của tây dược, rồi thử nghiệm trên lâm sàng tại các bệnh viện lớn trên toàn quốc. Bệnh nhân được phân loại bệnh giống nhau theo tiêu chuẩn tây y rồi chia làm ba nhóm theo ba cách điều trị khác nhau, cách sử dụng thuốc riêng lẻ khác nhau, nhóm một chỉ dùng tây dược, nhóm hai chỉ dùng đông dược, nhóm ba dùng thuốc kết hợp cả đông và tây dược. Cả ba phương pháp được nghiên cứu, thử nghiệm, theo dõi trong thời gian dài từ 10 năm đến 20 năm, đem thống kê các kết qủa, và học tập rút kinh nghiệm để thay đổi phương pháp điều trị thích hợp cho có hiệu qủa hơn, cải tiến cách chế biến thuốc tinh vi hữu hiệu hơn, hy vọng các thầy thuốc tương lai sẽ thống nhất được quan điểm khám và chữa bệnh giống nhau trên cùng một căn bệnh.

doducngoc

Read More

CCĐY 1 - HỆ THỐNG CẤU TẠO THẦN TRONG ĐÔNG Y

Thần là một trong ba yếu tố tinh-khí-thần dùng để lý luận trong việc khám và chữa bệnh theo phương pháp cổ truyền của đông y.

Đối với đông y, thần đóng vai trò quan trọng nhất trong việc chữa bệnh. Việc nghiên cứu thần được lập thành hệ thống, và đã ứng dụng, tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong việc chữa trị cả hàng ngàn năm, xây dựng được một hệ thống kinh mạch huyệt đạo căn bản gồm 365 huyệt, mỗi huyệt tạo ra một phản ứng chức năng thần kinh, nhưng khi phối hợp huyệt thì lại còn phong phú đa dạng hơn giống như cách phối hợp các thành phần hóa chất để tạo ra một phản ứng hóa học nhất định nào đó. Cho nên các huyệt này vừa để khám bệnh, vừa để chữa bệnh mà không cần phải xét nghiệm nữa, vì khi xét nghiệm hoặc chữa bệnh kết qủa đều giống nhau đối với một huyệt, đông y gọi là hiệu năng chữa trị của huyệt đã được đúc kết kinh nghiệm rất phong phú, vì vậy người xưa nói rằng ‘cái gì chưa biết mới cần phải thử ,cái gì đã biết rồi khỏi cần phải thử nữa’..

Hệ thống cấu tạo thần trong đông y :


Về cơ sở vật chất
:

Là bộ óc, tế bào não, trung khu thần kinh, dây thần kinh thông qua cột sống liên lạc với tạng phủ, da, thịt, xương, gân...đến tất cả mọi chỗ của cơ thể.


Về chức năng
:

Ngoài chức năng của ngũ quan, của trung khu thần kinh, của lục phủ ngũ tạng, của hệ nội tiết, hệ miễn nhiễm, hệ hô hấp, dinh dưỡng, tuần hoàn, tiêu hóa, bài tiết, sinh dục, hệ giao cảm, vận động, phản xạ, hưng phấn, ức chế.. mà khoa học đã biết, còn có những chức năng khác, thường được dùng trong phép chữa bệnh bằng huyệt gọi là hệ nội dược .

Con người, trong cơ thể có chứa sẵn các hóa chất mà từng giây từng phút vẫn trao đổi phản ứng hóa học gọi là phản ứng sinh học tự động để điều khiển mọi chức năng cần thiết cho sự sống, ta tạm gọi là Hệ điều hành và kiểm soát chức năng sinh học tự động. Thí dụ trong trường hợp bệnh tiểu đường hay bệnh còi xương chẳng hạn, khi phân chất thành phần dinh dưỡng trong thực phẩm ăn uống hàng ngày đều có đủ, nhưng chức năng yếu, không hấp thụ được 100% mà chỉ được 20-30% chất phosphate, calcium trong bệnh còi xương, và hoàn toàn không hấp thụ chất đường, cho nên dư thừa chất vôi, chất đường trong nước tiểu, trong máu. Như vậy ta phải hiểu chương trình điều hành chất vôi và chất đường của THẦN đã yếu hay hỏng cho nên không thu nạp và chuyển hóa thành chất bổ nuôi cơ thể. Tuy nhiên, nếu ta không ăn chất ngọt thì cơ thể thiếu đường để nuôi bắp thịt và cơ tim sau sẽ bị suy tim làm mệt, ngược lại, nếu ăn nhiều chất vôi chữa bệnh còi xương mà khả năng hấp thụ ít không qúa 30% ,phần còn lại sẽ làm mệt thêm chức năng thải lọc của thận, sau sẽ làm cho thận yếu dẫn đến bệnh sạn thận.

Người chữa bệnh bằng huyệt nội dược, giống như dược sĩ bào chế thuốc ngoại dược, biết cách sử dụng máy vi tính của bộ não, lập ra một quy trình điều hành nội dược mà cơ thể có sẵn thông qua cách chọn huyệt, làm tăng hệ thống hấp thụ và chuyển hóa, lúc đó cơ thể sẽ hấp thụ và chuyển hóa được chất đường và chất vôi..Hệ thống sử dụng huyệt để chữa bệnh gọi là hệ thống nội dược bán tự động ( système endocrine ) vì phải nhờ đến thầy thuốc kích thích huyệt. Nếu thầy thuốc sử dụng huyệt sai, giống như thảo chương cho máy điện toán sai máy không điều hành được. Muốn điều chỉnh được sự khí hóa đúng làm cho cơ thể khỏe mạnh, thầy thuốc phải hiểu rõ các chức năng của thần trong việc khí hóa của Tinh-Khí-Thần., của âm dương ngũ hành của tạng phủ mới có thể chữa được gốc bệnh.

TINH : Là thức ăn có âm, có dương, có ngũ hành, có hàn nhiệt, hợp với tạng phủ nào, không hợp với tạng phủ nào. Thức ăn âm làm cho cơ thể mát sinh huyết, thức ăn dương làm cho cơ thể ấm,nóng sinh khí. Nếu ta bị bón là đã ăn nhiều chất dương, nếu ta bị bệnh tiêu chảy là đã ăn nhiều chất âm. Đông y phân loại thức ăn có chất ngọt vào tỳ, chất cay vào phế, chất mặn vào thận, chất chua vào gan, chất đắng vào tim. Thức ăn lúc nào cũng phải đủ tính, khí và vị, không dư không thiếu gọi là quân bình sự khí hóa ngũ hành.

KHÍ : Ngoài sự hít thở và vận động để tạo khí kích thích sự tuần hoàn của khí và huyết, còn có khí âm dương ngũ hành của mỗi tạng phủ có chức năng riêng ,đông y gọi Phế khí là táo khí, Thận khí gọi là thủy khí ,Can khí là phong khí, Tâm khí là hỏa khí, Tỳ khí là thấp khí. Khí của tâm, can, tỳ, phế, thận ,gọi chung là âm khí. Khí của Tiểu trường là hỏa khí ,Đởm khí là phong khí, Vị khí là thấp khí, Đại trường khí là táo khí, Bàng quang khí là thủy khí, gọi chung là dương khí. Thần điều hòa được đúng các khí, đúng các bộ vị của tạng phủ hoạt động tốt, đó là chức năng tự động của thần. Mỗi một chức năng của tạng phủ bao gồm chức năng nuôi dưỡng, phát triển, bảo vệ cơ sở bên trong và bên ngoài tạng phủ. Thí dụ như bao tử bị loét, là cơ sở vật chất bị tổn thương thực thể, nó phải báo cho thần lập kế hoạch và thực hiện sửa chữa, khi thực thể bị co thắt hoặc thòng, nó cũng phải báo cho thần điều chỉnh ,khi ăn ít bao tử nhỏ lại, khi ăn nhiều bao tử cần phải lớn mạnh hơn thần cũng phải dự trù kế hoạch phát triển và điều tiết những dịch chất của gan, mật, tỳ, vị ở giữa hai lớp thành bao tử cho phù hợp với những thay đổi của cơ thể.

Chức năng ngoài của tạng phủ, Tây y không thể thấy được nhưng rất quan trọng. Chẳng hạn như Đông y nói bao tử nhiệt ,khi Tây y xét nghiệm không thấy tổn thương thực thể nên không cần phải chữa bao tử, nhưng đối với đông y, bao tử nhiệt làm chân răng lỏng, trồi lên, đau răng, viêm chân răng sẽ phải nhổ ,nếu bao tử bị nhiệt một thời gian lâu sẽ bị bệnh loét bao tử.., còn đông y chữa cho bao tử hết nhiệt lúc đó các triệu chứng bệnh trên sẽ hết, hoặc khi bao tử bị đầy hơi đưa lên họng thành ợ hơi, hôi miệng, cơ thể có huyệt tạo ra chức năng hạ hơi, giáng khí. Như vậy mỗi huyệt có nhiều chức năng để trị bệnh, gọi là đặc tính của nội dược.,tính, khí và vị riêng . Khi tác động vào huyệt là tác động trực tiếp vào hệ thần kinh để tạo ra một vị thuốc thiên nhiên có sẵn trong cơ thể nhờ vào sự điều chỉnh hormone như ý muốn của huyệt để điều chỉnh khí phong, hàn, thử , thấp, táo, nhiệt, điều chỉnh về khí, về huyết, điều chỉnh khai thông, họặc đóng giữ lại ,điều chỉnh sự vận động cơ bắp, kinh mạch, chữa thần kinh, giảm đau, tăng sức đề kháng, điều chỉnh hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa, bài tiết, sinh dục, tăng cường miễn nhiễm ,điều chỉnh nội tiết, tăng giảm hồng cầu, bạch cầu, gỉải độc, chữa và điều chỉnh chức năng bên trong và bên ngoài tạng phủ, phát triển và bảo vệ da, thịt ,gân, xương..điều chỉnh thần kinh vận động, cảm giác của tứ chi, của đầu, mặt, mắt, tai, mũi lưỡi, răng họng..Tất cả các huyệt giống như một hóa chất, một nguyên tố hóa học ,người dược sư có thể phát minh ra đủ các loại thuốc ,nhưng khác nhau ở chỗ thuốc ngoại dược đi vào cơ thể để chữa bệnh, nếu cơ thể không chấp nhận hoàn toàn như ý muốn của người bào chế sẽ tạo ra phản ứng phụ, cơ thể sẽ phải mất đi một số năng lượng để loại bỏ những chất không cần đôi khi còn làm hại cơ thể gọi là độc tố, ngược lại tác động lên huyệt để cơ thể tự động sản xuất ra thuốc gọi là nội dược tùy vào cách phối hợp huyệt của thầy thuốc. Cơ thể mạnh hay yếu đều nhờ vào sự biến đổi của khí gọi là sự khí hoá ,sự khí hóa là vô hình nhưng kết qủa là hữu hình ,vì khí biến đổi từ dinh dưỡng thuộc tinh, từ hơi thở ,sự vận động ,và từ không khí ,thời tiết thuộc khí ,và khí cũng biến đổi theo tâm lý tình cảm thuộc thần. Khi tinh-khí-thần hòa hợp cơ thể được khỏe mạnh thì ai cũng có thể nhìn thấy .

THẦN :Nói đến thần là phải liên quan đến ý, đông y thường nói ‘ Ý ở đâu, khí ở đó ,khí ở đâu huyết cũng ở đó .’ Cho nên định bệnh để chọn huyệt chữa rất quan trọng, và phương pháp chữa cho có hiệu qủa cũng quan trọng không kém. Thí dụ bệnh mất ngủ kinh niên, theo đông y có hàng chục nguyên nhân khác nhau, sẽ có hàng chục cách chữa khác nhau. Ở đây chúng ta xét về khí huyết ở bộ não ,nếu bộ não thiếu khí huyết để nuôi não, người sẽ bần thần mệt mỏi nên khó ngủ, huyệt kích thích phải ở trên đầu để cho ý phải tập trung trên đầu, theo nguyên tắc ý ở đâu thì khí huyết ở đó, cho nên khí huyết đã lên đầu để nuôi não. Ngược lại, khi bị bệnh cao áp huyết, sung huyết não, bộ não tích tụ nhiều huyết nhiệt làm đầu nóng, rối loạn thần kinh gây mất ngủ, đông y sẽ chọn huyệt ở dưới chân để kích thích đem khí huyết xuống chân ,giải tỏa sự sung huyết trên đầu..Do đó, tùy theo nguyên nhân mất ngủ để chọn huyệt nội dược thích hợp, nếu mất ngủ do ăn no trước khi đi ngủ theo thói quen thì nguyên nhân do chức năng bao tử, nếu uống thuốc trị bệnh mất ngủ mà vẫn không ngủ được là do uống nước nhiều trước khi đi ngủ khiến cho đêm phải thức giấc để đi tiểu thì nguyên nhân do chức năng thận, mất ngủ ở phụ nữ trong thời kỳ tiền mãn kinh là do xáo trộn hormone, có loại mất ngủ do đau nhức, do tâm lý vui qúa, buồn qúa, lo qúa ,sợ qúa, giận qúa..

Kết qủa chữa bệnh lâu hay mau đều lệ thuộc vào thần ,mọi chức năng hoạt động trong cơ thể đều do thần điều khiển. Thần chia làm ba loại :

Loại bẩm sinh :

Là bộ thần kinh hoàn hảo hay thiếu sót gồm cả bộ lưu trữ và bộ nhớ, cho nên có người thông minh, có người khờ dại ,có người có sức đề kháng mạnh, có người yếu hay bị bệnh lâu khỏi..

Loại do thói quen :

Ảnh hưởng bởi phong tục tập quán sinh hoạt trong gia đình, xã hội, môi trường, hoàn cảnh địa dư, văn hóa, chính trị, tôn giáo, nên tâm lý tình cảm, quan điểm, có phản ứng nhanh chậm khác nhau.

Loại tri thức :

Do học hỏi huân tập thông qua giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mới sinh ra phân biệt, thành kiến, cho nên có người thích đông y, có người tin và thích tây y.

Dù sao, qua kinh nghiệm của đông y, mọi sự thay đổi của tinh-khí-thần đều làm thay đổi hệ giao cảm và hệ vận động của thần kinh ,sẽ làm thay đổi tỷ lệ hormone, như vậy là làm thay đổi luôn sự hoạt động của tế bào trong cơ thể. Những tế bào thần kinh của lục phủ ngũ tạng làm việc liên kết với nhau từng giây từng phút để bảo đảm bộ ba tinh-khí-thần giữ đúng tiêu chuẩn hòa hợp sự khí hóa của cơ thể được tốt. Nếu có bất cứ một sự xáo trộn nào của tinh, khí , thần, đều có ảnh hưởng đến tạng phủ :

Ảnh hưởng do Tinh (tinh chất của thức ăn) :

Tinh chia làm hai loại mùi và vị .:


Xét về vị :

TÂM ưa đắng, nhưng đắng qúa hại tim, cho nên tâm hư cần uống thuốc có chất đắng, tâm thực là dư chất đắng phải bớt đi bằng cách không nên ăn những chất có vị đắng hoặc tả tâm thực phải dùng chất mặn, hoặc bổ thận thủy để khắc chế tâm hỏa theo luật sinh khắc ngũ hành.

GAN ưa chua, nhưng chua qúa hại gan, chất chua đối với tây y là vitamine C, nhưng đông y lúc nào cũng phải xét đến tính chất âm dương của một chất về khí, tính và vị, cho nên tục ngữ đã có câu nói về tính : cam hàn, quít nhiệt, bưởi thanh. Nếu một bệnh nhân thân nhiệt cảm thấy lạnh mà cần phải dùng đến vitamine C để tăng cường sức đề kháng phải dùng quít không được dùng cam người sẽ lạnh thêm làm trở ngại sự tiêu hóa, các dưỡng trấp không đủ nhiệt lượng để hóa huyết sẽ biến thành đờm. Nếu bệnh nhân cảm thấy nóng bức, cổ họng khô khát, ho khan, cần phải dùng Vitamine C ở cam làm giảm nhiệt. Nếu cơ thể cần bớt chất béo loại trừ cholestérol mà không sợ phạm hàn, phạm nhiệt nên dùng Vitamine C ở bưởi.

TỲ ưa ngọt,nhưng ngọt qúa lại hại tỳ. Khi Tỳ hư cần phải bổ tỳ bằng chất ngọt để nuôi tim và cơ bắp, tỳ thực là dư chất ngọt phải cữ ăn ngọt ,nếu không chất ngọt dư thừa sẽ làm tăng men tiêu hóa ,tăng nhiệt ở bao tử và lá mía sẽ sinh bệnh tiểu đường, loét bao tử ,lở da, thấp chẩn ,eczéma ,sưng đau đầu gối, thấp khớp, mục xương.

PHẾ ưa cay ,chất cay giúp phế mở lỗ chân lông bài tiết mồ hôi, cho nên khi ăn cay chúng ta cảm thấy nóng da đỏ mặt và xuất mồ hôi, nhưng cay qúa sẽ hại phế mất khả năng điều tiết lỗ chân lông làm tiêu chảy, mất nước, chảy nước mắt, làm hại gan, áp huyết tăng..

THẬN ưa mặn, vì thận cần nước, chất mặn giữ nước để làm quân bình tỷ lệ đường-muối-nước cho cơ thể, nhờ nước ở thận gọi là thủy khí dùng để điều hòa hỏa khí, thấp khí, phong khí, hàn khí, táo khí, nhờ nước thận mới lọc máu ,giải độc, giải nhiệt có hiệu qủa, nhưng nếu dư nước cơ thể sẽ phù thủng, tiêu chảy, bụng báng, xệ ruột (hernie ), khúc ruột nơi bẹn bên trái phình to chặn vào động mạch đùi háng làm chân trái yếu, tê, phù, sưng đầu gối, nơi khúc ruột ấy mất sự co bóp để tống phân ra ngoài bệnh nhân tưởng lầm là bị bệnh táo bón ,phân lưu trữ lâu ngày làm thối khúc ruột sẽ thành ung thư ruột.

Xét về mùi :

Mùi khê, khét vào tâm, trên quan điểm bổ-tả , thức ăn có mùi khê khét vừa ,còn tồn tính thì còn bổ, khê khét qúa mất hết chất bổ mà cố ăn vào sẽ hại cho tim mạch.( ăn thịt nướng cháy già lửa quá sẽ hai tim ).

Mùi hôi thối, úa của thực phẩm hay của môi trường làm hại gan.

Mùi thơm của thức ăn kích thích tỳ ăn ngon, nhưng càng cao lương mỹ vị qúa lại hại tỳ sinh chán ăn, ăn không tiêu.

Mùi tanh vào phế, khi phổi yếu không đủ oxygène để chuyển hóa dưỡng trấp thành huyết ,cần phải bổ bằng chất tanh ,như ăn cá, ăn uống có thêm chất kim loại như chất sắt trong thực phẩm hoặc thuốc uống để phục hồi sự khí hóa của phổi.

Mùi khai thuộc thận, nước tiểu trong, không có mùi khai là chức năng của thận yếu không lọc rút được cặn bã và độc tố trong cơ thể ,cần phải ăn loại thực phẩm có nhiều chất vôi, phosphore, đồ biển thích hợp, nhưng qúa bổ thành dư thừa làm thận bị đóng sạn.


Ảnh hưởng do khí :

TÂM ưa hỏa khí để tim đủ sức nóng tạo nhiệt cho cơ thể, nhưng ăn những chất kích thích nhiều hỏa qúa, hoặc do môi trường làm việc, khí hậu, thời tiết nóng nực qúa làm mệt tim ,khó thở, tăng áp huyết.

CAN ưa phong khí, vì can tàng huyết,cần phải lay động nhẹ như thở để trao đổi oxy cho máu được tốt, nhưng ăn nhiều chất chua, các loại mắm lên men, hút thuốc lá, uống rượu, hoặc các loại thức ăn có nhiều độc tố làm gan phải co bóp thải độc mạnh, đông y gọi là can phong nội động, chẳng may lại gặp trùng hợp ngoại phong xâm nhập cơ thể, tạo áp lực huyết trong gan sung lên não làm đứt mạch máu não sẽ thành tê liệt, bán thân bất toại.

TỲ ưa thấp khí là khí vừa nóng vừa ẩm để tạo ra men tiêu hóa làm tiêu hóa thức ăn,nhưng thấp khí nhiều qúa làm lở da, hại thịt, cơ bắp, nếu gặp môi trường ẩm thấp bên ngoài ,hoặc khí hậu ẩm thấp là điều kiện dễ phát sinh vi trùng, vi khuẩn, thức ăn dễ lên men ,hư thối ,hoặc cơ thể dư chất đường dễ lên men sinh ra nhiều thấp khí khiến cơ thể mệt mỏi nặng nề. Chức năng của tỳ là dẫn các dịch chất lưu thông khắp cơ thể, nếu tỳ có qúa nhiều thấp khí sẽ làm lưu thông bị đình trệ, tắc nghẽn, sinh đau nhức cơ bắp, nhức mỏi, phong thấp, nếu tỳ không dẫn huyết để nuôi xương cốt sẽ sinh bệnh thấp khớp, khô xương, chân tay nặng nề, phù thủng

PHẾ ưa táo khí, là khí khô ráo, không nóng qúa làm teo phổi gây khó thở, không lạnh qúa làm phổi có nhiều hơi nước gây thở khò khè.Táo khí của mùa thu làm cây cỏ thu mình lại nó có tính chất co rút ,nên phổi có tính chất co rút tự động ,khi hít vào phổi nở ra,khi không hít vào thì phổi tự động co rút lại để đẩy khí ra ngoài gọi là thở ra. Đại trường liên quan đến phế cũng thuộc táo khí có tính chất co rút cặn bã của thức ăn, nước thấm qua thành ruột vào bàng quang thành nước tiểu, còn lại cặn bã trong ruột thành phân. Nhưng nếu táo khí qúa nhiều trong phổi sẽ thành bệnh teo phổi ( phế nuy),còn táo khí nhiều trong ruột già làm phân khô cứng sẽ bị táo bón.

THN ưa hàn khí, là thích khí mát, thận cần nước để điều hòa lượng đường, muối, vôi, mỡ có trong cơ thể để giữ thân nhiệt bình thường, để lọc và giải độc, nếu thận nóng sẽ đi tiểu dắt và đỏ ,nếu thận hàn sẽ đi tiểu nhiều, nếu thận lọc tốt nước tiểu mầu hơi vàng, nếu thận hư yếu không lọc, nước tiểu có mầu trắng, thận còn có chức năng điều hòa tam tiêu để chuyển vinh khí, vệ khí đi khắp cơ thể qua đường cột sống gọi là thận dương.


Ảnh hưởng do thần
:

Lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý ) nhiễm lục trần ( sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) đều có thể làm thay đổi thần ,nhưng về bệnh tật, đông y chú trọng đến ba yếu tố chính là tâm lý, mầu sắc và âm thanh.

TÂM ưa mầu đỏ, sinh vui, hay cười .Tục ngữ có câu ‘ cườI như điên’, vì tâm tàng thần, khi vui qúa mất kiềm chế cử chỉ và hành động nên gọi là điên.

CAN ưa mầu xanh, ưa giận, giận qúa trớn hay la hét.Tục ngữ có câu ‘giận căm gan ,hoặc giận bầm gan tím ruột’, gan chủ gân, nên mỗi khi giận làm run gân chân tay. Gan tàng hồn, khi bị bệnh gan nặng, bệnh nhân như người mất hồn.

Tỳ ưa mầu vàng, Tỳ tàng ý nên ưa suy tính, lo nghĩ, nếu được thỏa mãn thường hay hát, nếu lo tính chưa xong thì lo ăn mất ngon, ngủ mất yên.

PHẾ ưa mầu trắng, dễ mẫn cảm với buồn, buồn hay thở dài ,buồn qúa hóa khóc, nếu chỉ thở ra nhiều hơn hít vào làm teo phổi, giảm oxy trong máu làm suy thần kinh, hại tế bào, thiếu oxy trong não sinh ra trăm bệnh, đông y có câu ‘phế tàng phách, nếu phách lạc thì hình suy ‘,phụ nữ có bệnh buồn chán hay thở dài trong nhiều năm làm oxy và máu bị tắc tuần hoàn ở vú sẽ thành bệnh ung thư vú.

THẦN ưa mầu đen, dễ mẫn cảm với sợ hãi thành hay rên, đông y có câu ‘ sợ phát run, hoặc sợ vãi đái ‘,như vậy sợ làm ảnh hưởng đến thận.Thận tàng tinh,người bị bệnh sợ ám ảnh làm mất chức năng khí hóa của thận là sinh tinh hoá tủy để nuôi tế bào não, nuôi cột sống ,xương cốt,, khi nguyên khí mất ,da mặt đổi mầu xạm đen hoặc mốc, khi sợ hãi qúa sẽ tổn thương đến thận. Người bị bệnh thận đêm ngủ thường hay rên. Bệnh mãn tính làm cơ thể suy nhược mất thần, nhút nhát, nói yếu hơi ,để lâu không chữa làm hại gan da mặt đổi sang mầu hơi xanh lẫn đen tái.

Như vậy THẦN bao gồm tất cả mọi sự điều hành của cơ thể để nuôi dưỡng, phát triển, và bảo vệ cơ thể thông qua hệ thần kinh dẫn truyền và phản xạ để điều tiết hệ nội tiết (système endocrine) giữ cho bộ ba tinh-khí-thần về cơ sở và chức năng lúc nào cũng được quân bình hòa hợp, nếu con người không hiểu cấu trúc của nó, ăn uống thuốc men sai lầm, hít thở yếu kém,và tâm lý thần kinh bất bình thường, đã vô tình phá vỡ trật tự khiến bộ ba tinh-khí- thần mất ổn định sẽ làm cho cơ thể bị bệnh.

doducngoc

Read More

CCĐY 1 - LỢI VÀ HẠI CỦA ĂN UỐNG VỚI BỆNH TẬT

Chúng ta đôi khi thắc mắc không hiểu tại sao những người bị cùng một bệnh, uống cùng một loại thuốc giống nhau mà có người khỏi bệnh, có người lại bị bệnh nặng hơn. Đó là do tình trạng thể chất khác nhau, do điều kiện môi trường sống ,sự nghỉ ngơi và cách ăn uống khác nhau ,cho nên sự ăn uống cũng là một trong các điều kiện có ảnh hưởng lợi và hại đối với bệnh tật.

Mặt khác, trên nguyên tắc, cơ thể bị bệnh là do sức đề kháng của cơ thể suy yếu nên dễ bị bệnh hơn những người khác cùng chung một điều kiện sống làm việc và ăn uống giống nhau ,như vậy là do điều kiện hấp thụ và chuyển hoá thức ăn thành chất bổ nuôi cơ thể ở mỗi người mỗi khác ,tùy theo nhu cầu mà cơ thể cần.

Thức ăn không hẳn cần thiết phải đầy đủ sinh tố ,giầu chất dinh dưõng ,bởi vì khi cơ thể dư thừa những chất bổ không cần thiết, sự tiêu hoá và đào thải không kịp nó trở thành độc tố làm hại cơ thể .Một thí nghiệm đơn giản như chúng ta thử ăn một món ăn bổ , nhai kỹ nhả vào một túi nylon, bọc nhiều lớp ,được khử trùng ,xem như một cái bao tử nhân tạo, rồi giữ ở nhiệt độ giống với nhiệt độ của cơ thể trong thời gian ba ngày kết qủa sẽ ra sao ? Khi mở ra, thức ăn bị chua thối có nhiều vi khuẩn là mầm mống gây bệnh cho con người. Thức ăn chứa trong bao tử con ngườI bị ứ đọng hai ba ngày chưa tiêu hóa được cũng sẽ trở thành độc tố như thế. 

Đối với con người ,sự hấp thụ và chuyển hoá thức ăn nhanh chậm, nhiều ít khác nhau tùy điều kiện hoạt động và nhu cầu của cơ thể mỗi người khác nhau .Thí dụ ai cũng biết cà rốt là bổ cần phải ăn mỗI ngày, đấy là tính theo tiêu chuẩn sinh tố, còn công dụng của cà rốt nó có mặt lợi mặt hại của nó đối với sự tiêu hoá .Nó có lợi là cầm được bệnh tiêu chảy khi chúng ta đang bị bệnh tiêu chảy ,nghĩa là nó có tính chất làm bón, ngược lại, nếu chúng ta bị bón kinh niên mà ăn cà rốt sẽ làm bón thêm,mặt khác lại phải dùng thuốc xổ suốt đời làm hỏng nhu động ruột sau sẽ sinh bệnh viêm hoặc ung thư ruột do thức ăn giữ lâu trong cơ thể biến thành độc tố làm ra nhiều bệnh .

Vì thế, khi chúng ta bị bệnh, việc ăn uống rất quan trọng, các thức ăn thức uống tùy theo mỗi bệnh mỗi khác nhau, nó có thể giúp chúng ta mau lành bệnh hoặc làm kéo dài bệnh lâu khỏi hơn ,chúng ta sẽ nghiên cứu cụ thể đối với từng bệnh. Điều quan trọng là chúng ta hãy xem việc ăn uống được hướng dẫn dưới đây chỉ để bổ sung cho các bữa ăn hàng ngày phù hợp với lúc cơ thể đang có bệnh, chỉ có lợi chứ không có hại , cùng lúc chúng ta vẫn có thể dùng thuốc tây hay thuốc ta để chữa bệnh. Nếu chúng ta muốn dùng thuốc ta chung với thuốc tây để giảm bớt ảnh hưởng do phản ứng phụ của thuốc tây gây ra, như hiện nay ở các bệnh viện Trung quốc vẫn áp dụng, thì hai loại thuốc dùng riêng rẽ cách nhau 4 tiếng đồng hồ để tránh sự công phạt của hai thứ thuốc.

A.Phương pháp ăn :

Phải biết loại thức ăn nào phù hợp với căn bệnh có thể giúp cho bệnh mau hồi phục, và loại thức ăn nào có hại làm cho bệnh trở nặng thêm, có những món ăn khi phân chất thành phần dinh dưỡng có vẻ có ích nhưng khi ăn vào cơ thể lại có phản ứng xấu, có những món ăn tưởng như không có gì là bổ nhưng khi ăn vào lại thấy khỏe ,như vậy chứng tỏ món ăn đi vào cơ thể không những bằng chất đạm, vitamines, chất đường ,chất béo và nhiệt lượng calorie ..,mà nó còn đi vào cơ thể bằng chất khí vô hình, nhìn không ra, tìm không thấy nhưng ăn vào cảm thấy khỏe .Cho nên đông y chú trọng đến khí ,tínhvị của món ăn, thuốc uống, cái nào hợp và cái nào gây bất lợi cho cơ thể lúc đang bị bệnh.

Khí, tính,vị ,của thực phẩm và cây trái, theo đông y ,nó dẫn các chất dinh dưỡng vào cơ thể để tạo ra sự trao đổi chất mà không quan tâm đến các thành phần nguyên tố có trong thực phẩm, vì nó đương nhiên có sẵn trong thực phẩm mới có được khí vị riêng biệt của mỗi loại, chẳng hạn như theo tây y thành phần dinh dưỡng trong cam, quýt, bưởi, đa số chứa vitamine C nhiều nhất ,rồi đến chất đường , các nguyên tố ,sinh tố và phần còn lại rất ít không biết rõ, được gọi là các họat chất khác, nhưng theo đông y, chính những hoạt chất này tạo ra khí ,tính và vị đặc biệt có tính chất trị bệnh, nó có thể làm lợi cho cơ thể hay làm hại cho cơ thể . Nếu chúng ta làm một thí nghiệm ngược lại, chọn tất cả các thành phần hợp chất có trong cam, quýt để chế ra cam quýt nhân tạo thì không thể nào giống như tính-khí-vị thiên nhiên có khả năng chữa bệnh như cây trái được.

Thí dụ những người bị bệnh suyễn do phổi, trong trị liệu của đông y phải khám xem là suyễn thuộc phổi hàn (xoang phổi ẩm ướt ) hoặc thuộc phổi nhiệt (xoang phổi khô nóng), nếu phổi hàn cần phải dùng Vitamine C thì nên ăn quýt, trong hoạt chất quýt có chất khí tạo ra nhiệt để dẫn vitamine C vào cơ thể , cũng giống như nước có thành phần H2O, khi ngườI bị bệnh rét lạnh thì thích uống nước nóng ,nếu uống nước lạnh làm cho người lạnh thêm, nhưng người đang bị sốt nóng, không thích uống nước nóng làm tăng sốt mà thích uống nước mát lạnh để giảm sốt, cho nên tạo khí nóng lạnh không làm thay đổi thành phần H2O của nước ,nhưng nhờ khí-tính-vị có trong thực phẩm cây trái sẽ đem thành phần thuốc vào cơ thể tạo ra phản ứng thuận hay nghịch. Trường hợp suyễn nhiệt nên ăn cam sẽ tạo ra khí mát cho phổi.

Trường hợp không phải bệnh suyễn, cơ thể suy nhược thiếu vitamine C, thiếu sức đề kháng chống bệnh tật mặc dù ăn nhiều, người béo, cholesterol trong máu cao, không bị hàn hay nhiệt, nên ăn bưởi, vì hoạt chất trong bưởi không tạo ra khí hàn, khí nhiệt mà tạo ra khí thanh làm tiêu bớt chất béo như mỡ, cholesterol ..cho nên kinh nghiệm nhân gian thường nói cam hàn, quýt nhiệt, bưởi thanh.

Ngoài ra khí được dẫn vào cơ thể bằng vị cũng đã có sẵn trong những hoạt chất khác ấy, tuy hàm lượng rất nhỏ, có cái ăn được ,có cái không ăn được Tây y không để ý, nhưng đông y lại dùng để chữa bệnh ,như vỏ quýt được gọi là trần bì dùng để sắc uống làm hạ đàm ,vì khí của nó làm tan, tính của nó ấm (ôn) và vị của nó hơi cay vào phổi, hơi ngọt vào tỳ và bao tử, nên dẫn đàm đi xuống ; cuống của trái hồng sắc uống dùng để chữa bệnh nấc cục vì khí vị của nó đi xuống bao tử làm hạ hơi ngăn nghẹn ở cổ họng ; như ớt có vị cay vào phổi, tính nóng làm ấm cơ thể , khí của nó vừa thăng vừa xuất cho nên khi ăn vào làm sắc mặt đỏ ,ở vùng sơn lam chướng khí cần ăn nhiều ớt, khi bị sốt rét ăn bao nhiêu ớt cũng không thấy cay ,vì hàn khí thấm sâu vào cơ thể chưa xuất ra được, nhưng nếu một người không bị sốt rét mà ăn ớt nhiều nó sẽ tạo phản ứng đẩy nhiệt khí ra ngoài làm xuất mồ hôi....

Một cách tệ hại do thói quen chúng ta thường hay mắc phải là thấy có ai mách bảo ăn thứ này tốt ,bổ ,ăn thứ kia không tốt ,điều đó không hoàn toàn đúng ,mặc dù phân chất thành phần thức ăn có nhiều chất bổ dưỡng ,không chứa độc tố, nhưng nếu hợp khí-tính-vị với cơ thể đang cần mới thành thuốc bổ, còn ngược lại khí-tính-vị không hợp với cơ thể thì làm hại cơ thể, cũng vì thế ăn uống để chữa bệnh theo phương pháp macrobiotic cũng không đạt được kết qủa mong muốn ,vì nó không đáp ứng được nhu cầu khí-tính-vị mà cơ thể đang cần.

Đông y đã có những kinh nghiệm tìm tòi khí, tính và vị trong cây cỏ dùng để làm thuốc chữa bệnh, có những kinh nghiệm nghiên cứu sự vận chuyển của khí trong cơ thể đối với từng tạng phủ bằng những thử nghiệm trực tiếp trên cơ thể bệnh nhân qua bao nhiêu thời đại mới đúc kết thành quy luật khí hóa của âm dương ngũ hành cho đến ngày nay vẫn còn áp dụng có kết qủa. Quan niệm của đông y ,mọi bệnh tật xảy ra đều do sự biến đổi của khí trong hệ thống khí hóa của tinh-khí-thần.

KHÍ CỦA TINH có trong thực phẩm, cây trái, và các loại thuốc cây cỏ, được xét theo 3 tiêu chuẩn khí, tính và vị . Thành phần nguyên tố, các hợp chất và các hoạt chất khác có trong thực phẩm, cây, cỏ, hoa, lá, được phân chất theo tây y là thành phần chính của thuốc nhưng đông y còn phải biết đến khí của nó là gì, tính của nó là gì và vị của nó là gì mới có thể biết cách sử dụng trong việc chữa bệnh.

.Khí của một loại cây cỏ phải có một trong tám đặc điểm như đi lên, xuống, vào, ra , hòa hợp, thu giữ, cho ói ra, cho đi đại tiện (gọi là khí thăng, giáng, liễm, xuất, hòa ,cố , thổ, hạ.).

Tính có thứ làm mát (hàn),làm nóng (nhiệt),làm ấm ( ôn ), làm khô ( táo ), làm chuyển động (phong), làm ẩm thấp (thấp) .

Vị để dẫn thuốc vào tạng phủ như vị mặn, ngọt, chua, cay, đắng ,chất mặn đẫn thuốc vào thận, chất ngọt dẫn thuốc vào tỳ, chất chua dẫn thuốc vào gan, chất cay dẫn thuốc vào phổi ,chất đắng dẫn thuốc vào tim. Vị tạo ra 3 phản ứng khác nhau tùy ở nồng độ nhạt, vừa hay đậm. Vị nhạt thì phản ứng nhẹ, chậm, vị vừa phản ứng mạnh hơn thì bổ, nếu đậm qúa mà tạng phủ không chịu nổi thì cho phản ứng nghịch thành tả làm hại tạng phủ. Tuy nhiên phản ứng thuận hay nghịch lệ thuộc vào khả năng hấp thụ của tạng phủ .Thí dụ người bị bệnh tiểu đường do chức năng vận hóa của Tỳ yếu không có thể hấp thụ 100 % chất ngọt có trong dưỡng trấp ,mà chỉ có khả năng hấp thụ 20 % .Trong trường hợp số lượng chất ngọt vào cơ thể 30 % , khả năng của Tỳ chỉ chuyển hóa được 20% để nuôi cơ nhục ,còn dư lại 10% nằm trong máu và nước tiểu ,cho nên khi thử máu và nước tiểu thấy có đường, trường hợp này vị nhạt vào tỳ sẽ có phản ứng thuận, nếu vị đậm sẽ hại tỳ, nên vị dẫn thuốc vào tạng phủ phải tùy thuộc vào khả năng hấp thụ và chuyển hóa của tạng phủ khi có bệnh. Theo cách chữa của đông y không phải kiêng ăn đường mà cần phải làm mạnh tỳ cho tăng khả năng hấp thụ và chuyển hóa được nhiều lượng đường hơn để tỳ có thể hấp thụ được 30 ,40, 50, 60 %..

Nhờ vào nguyên tắc này mà chúng ta có thể chế biến thực phẩm hoặc thuốc cho phù hợp bổ hay tả cho tạng phủ khi cần thiết. Thí dụ loại thuốc củ gấu ( hương phụ ) khí của nó làm thông khí, khai uất, tiêu tích ứ kết , tính của nó làm điều hòa ,vị của nó ngọt dẫn vào tỳ. Nếu chúng ta muốn sử dụng khí và tính của thuốc để chữa bệnh tích tụ uất kết làm đau trong gan thì cần phải sao chế đổi nó thành vị chua, nếu tích tụ làm đau ở thận ,phải đổi vị của nó thành mặn, và tùy khả năng hấp thụ và chuyển hóa mà điều chỉnh vị nhạt, vừa hay đậm cho phù hợp với nhu cầu mà tạng phủ đang có bệnh.

Đối với thuốc tây cũng vậy, như calcium ai cũng cho là bổ xương ,nhưng đói với đông y, nếu chế biến có vị mặn dẫn vào thận để bổ xương, có vị chua vào gan thì không cần thiết cho gan ,tính của thuốc nóng làm hại gan và tim mạch trong trường hợp bệnh nhân có bệnh cao huyết áp và thấp khớp, chất calcium theo máu theo ống mạch làm cứng mạch và thoái hóa các đốt xương . Nếu chế biến có vị cay thì vào phổi sẽ có lợi trong trường hợp phổi yếu lạnh hoặc cấn phải làm mau lành những vết loét trong phổi . Khi bao tử bị loét, cần tráng lên vách thành bao tử chất magnésium, nhưng nếu hãng bào chế có loại magnésium vị ngọt, thuốc sẽ dẫn vào bao tử, nếu có vị cay thì nó không chữa bao tử mà vào phổi, nếu có vị mặn nó vào thận mà không chữa bao tử .Khi bao tử đau ,uống Malox có hiệu nghiệm vì trong Malox chế bằng cam thảo có vị ngọt dẫn vào bao tử, khí của nó là hòa hợp, tính của nó là ôn (ấm). Cho nên phương pháp chế biến thuốc hay chế biến thức ăn đúng với nhu cầu của bệnh tật đều tạo ra khí để thành thuốc chữa bệnh nên cũng gọi là khí công chữa bệnh. Trong cách chế biến thuốc của đông y , người ta có thể thay đổi phần nào khí, tính và vị của nó nếu cần phải dùng đến nó.

Thí dụ một loại thuốc có khí thăng (đi lên, tính lạnh (hàn), nếu vị dẫn thuốc vào tim sẽ ra sao, vào phổi sẽ ra sao , vào tỳ sẽ ra sao, vào gan sẽ ra sao, vào thận sẽ ra sao. Nếu vào tim trong lúc tim bị nhiệt làm nóng sốt nhức đầu ,thì tính lạnh làm mát đưa lên đầu sẽ có lợi làm mát đầu, giảm sốt ,nhưng nếu sốt rét cơ thể lạnh ,nhức đầu lạnh ,tim đập yếu, nếu dùng loại thuốc trên sẽ chết người ,mặc dù trong thuốc không có độc. Ngược lại nếu bắt buộc phải dùng chất thuốc có trong loại thuốc đó người ta phải cho vị nhạt đi để tạo phản ứng nhẹ không gây nguy hiểm, hoặc sao chế rang, tẩm thêm chất khác cho tính thuốc bớt lạnh, hoặc cho thêm thuốc khác để trung hòa hoá giải bớt khí thuốc và tính thuốc .

Trong thức ăn cũng chế biến cách này để hóa giải những chất làm hại cơ thể mà vẫn duy trì được chất bổ dưỡng .Chẳng hạn cholestérol trực tiếp hoặc gián tiếp vào cơ thể không những bằng các chất béo của dầu mỡ, mà có ngay cả trong thức ăn không có dầu mỡ. Theo đông y ,nếu cơ thể đủ nhiệt năng do vận động nhiều làm chảy mỡ như những người làm lao động nặng thì cơ thể ăn bao nhiêu chất béo cũng không có bệnh cholestérol ,nhưng cơ thể ít vận động, thân nhiệt lạnh, bao tử yếu tiêu hóa chậm (do nhiệt độ trong bao tử thấp dưới 41 độ theo tiêu chuẩn ) thì tất cả các thức ăn vào cơ thể gọi là dưỡng trấp không đủ nhiệt năng chuyển hóa thành khí huyết bồi bổ cho cơ thể mà tất cả đều biến thành đàm, cho nên đàm là hậu qủa của tính hàn trong bộ tiêu hóa không chuyển hóa kịp thời, do sai lầm trong cách ăn uống, nó có thể tạo ra đàm từ cam, trái bơ, nước cốt dừa, sản phẩm bơ sữa, pho mát, đậu xanh, tinh bột...chứ không hẳn là chỉ dầu mỡ, trong động vật, cholestérol có nhiều trong da gà ,trong thịt có nhiều mỡ, trong hải sản như tôm, cua ốc...

Muốn loại trừ cholestérol ngay trong chế biến thức ăn ,thì mỗi loại cholestérol có cách hoá giải khác nhau và đã trở thành kinh nghiệm nhân gian ,như gà thơm ngon ở da ,nếu bỏ da còn gì là đặc tính của thịt gà, muốn loại bỏ cholestérol của da gà cần phải luộc chung với lá chanh và da gà chấm với muối tiêu chanh, theo đông y thịt gà bổ phổi ,muối vào thận, tiêu làm ấm thận ,chanh vào gan để làm mạnh bộ máy lọc loại bỏ những chất cơ thể không cần .Cholestérol trong thịt heo sẽ trực tiếp làm tắc hệ thống tim mạch nên phải loại trừ bằng hành lá có khí làm thông, có tính nhiệt làn tan mỡ, có vị đắng vào tim ,nó sẽ làm tan cholestérol trong hệ thống tim mạch ,vì thế trong nhân gian mới có câu con gà cục tác lá chanh, con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi .Các loại ốc có tính hàn, nếu người có bụng không tốt ăn vào sẽ bị tiêu chảy, để làm mất hàn phải chấm với nước mắm ớt gừng thật cay, nước mắm chất mặn vào thận, tính của nó làm ấm, gừng vừa cay vừa ngọt vào bao tử làm mạnh bao tử, ớt có vị cay vào phổi làm ấm phổi ,thông khí xuất hàn ra ngoài cơ thể bằng mồ hôi. Hột vịt lộn bổ thận, tăng dương nhiệt được hoá giải bằng rau răm có vị cay vào phổi ,có tính hàn và khí đi xuống làm khí trong cơ thể được quân bình , nhưng nó đã đem được thành phần thuốc có trong hột vịt để bồi bổ cơ thể.

Trong cách ăn uống có những món mua ở tiệm thực phẩm, có những món mua ở tiệm thuốc bắc, nhưng nó là loại cây cỏ thiên nhiên đã chế biến để bảo quản được lâu ,và khi chế thành món ăn thức uống nó không có phản ứng gì với thuốc tây hay ta mà bệnh nhân đang điều trị, cũng giống như người Á đông ăn cơm với cá mắm, còn người tây phương ăn bánh mì với bơ sữa ,cũng đều có thể uống thuốc tây hay ta để trị bệnh như nhau được.

Ngay cả các bệnh viện Trung quốc ,bệnh nhân được điều trị vừa thuốc tây vừa thuốc ta được chế biến thành thuốc chích giống như thuốc tây đã từ lâu ,thuốc đó như là một loại tân dược, ở Việt nam trước giải phóng cũng vậy,chẳng hạn như thuốc mã tiền là loại thuốc bắc được tây y chế thành thuốc chích strychnine. Cho nên khi cơ thể bị bệnh về thần kinh gân cơ ,tê liệt khi cần phải dùng vị thuốc này thì đông y cho mã tiền, còn tây y cho chích strychnine.  Nếu mình bị cảm ho cần phải có chất sát trùng, thông phổi, dễ thở ,long đàm, bớt ho thì đông y cho xông lá tràm (khuynh diệp) hoặc uống thuốc có lá khuynh diệp khô, còn tây y cho chích eucalyptine là loại khuynh diệp tinh chế , hàm lượng mạnh hơn tốt hơn ,chứ thật ra hai vị thuốc tây-ta như vậy đâu có kỵ nhau.

Tuy nhiên chúng ta để ý thành phần cấu tạo được phân chất theo khoa học thường là chất a,b,c..mỗi thứ bao nhiêu phần trăm, nhưng cộng laị không đủ 100% , số phần trăm thiếu đó được gọi bằng một tên chung là :các hoạt chất khác x% còn lại mà khoa học chưa tìm ra được. Cho nên nếu một bệnh cần phải chữa bằng chất a , chúng ta sẽ tìm thuốc nào có chứa nhiều thành phần a nhất ,bệnh khác cần chất b, chúng ta tìm thuốc nào có chứa nhiều thành phần b nhất..các thành phần khác có trong thuốc không hợp với bệnh sẽ tạo ra phản ứng phụ, nhưng cũng có loại bệnh không tìm ra loại thuốc mà tây y có thì đông y vẫn chữa được là bởi vì căn bệnh đó không cần phải tìm vị thuốc ở đâu cho xa mà nó có sẵn trong thành phần hoạt chất còn lại , vì thành phần này đối với đông y nó mới tạo ra khí cần thiết mà cơ thể đang thiếu ,cho nên đông y dùng nguyên cả cây thuốc để có đủ khí ,tính và vị thuốc mà không mất đi một thành phần nào.

Nếu biết cách áp dụng các hoạt chất còn lại không đáng kể này vào cách chữa theo tây y cũng sẽ có nhiều kết qủa kỳ diệu. Thí dụ như khi chúng ta bị sổ mũi, tây y cho thuốc Contact C uống hoài không hết, dùng liều mạnh thì cơ thể bị choáng váng ,ngật ngừ mà cũng không khỏi, nhưng nếu chúng ta uống một phần ba viên prométhazine lúc tối trước khi đi ngủ, sáng dạy trước khi đi làm uống một phần ba, trưa uống một phần ba thế là lỗ mũi chúng ta đã khô không chảy nước mũi nữa .Tại sao vậy, thuốc prométhazine là loại thuốc chống dị ứng thành phần chính làm ngủ để điều chỉnh thần kinh dùng chữa phong ngứa ,nhưng hoạt chất còn lại của nó không được liệt kê trong đó có chất atropine chỉ cần một phần ba chất atropine có trong một viên thuốc đủ làm khô niêm mạc mũi, và với số lượng một phần ba chất chính làm êm dịu thần kinh gây ngủ không đủ sức làm mình buồn ngủ nên vẫn có thể tiếp tục đi làm việc như thường lệ .Cho nên cách dùng thuốc phải biết phân biệt nặng nhẹ có trong thành phần thuốc mà không nên áp dụng một cách máy móc.

Cũng vì lý do này mà phương pháp ăn uống bao gồm cả các vị thuốc bắc liều lượng rất ít nhưng các hoạt chất cần thiết để chữa bệnh có trong đó mà khoa học chưa tìm ra lại có hiệu qủa chữa bệnh cao không ai ngờ được.

KHÍ CỦA KHÍ gồm hai loại là :khí ở ngoài cơ thể do thời tiết và môi trường (có khí phong, hàn, thử, thấp, táo, nhiệt), khí trong cơ thể là khí của lục phủ ngũ tạng như tâm, can, tỳ, phế, thận( có khí hỏa, phong, thấp, táo, hàn ),Khí ở trong và ở ngoài cơ thể lúc nào cũng giữ được quân bình thì sức khỏe tốt, chẳng hạn như thời tiết bên ngoài lạnh thì cơ thể phải mặc ấm, trong nhà phải mở sưởi để giữ thân nhiệt quân bình, ngược lại thời tiết nóng nực, trong nhà cần phải mở máy lạnh, máy quạt và mặc quần áo mỏng . Về ăn uống cũng vậy, khi thời tiết nóng ,hoặc cơ thể nóng, cần phải ăn những thực phẩm và cây trái có khí lạnh ,ngược lại ,thời tiết hoặc thân nhiệt lạnh, cần phải ăn uống những thực phẩm cây trái có khí nóng để tăng thân nhiệt...Điều may mắn là tạo hóa cũng đã ban ơn cho con người có được những thực phẩm và cây trái mùa nào thức nấy để giữ khí trong cơ thể được quân bình ,chẳng hạn như mùa hè có dưa hấu, củ đậu ăn cho mát để giải khát, mùa đông lạnh có soài, nhãn, sầu riêng, ăn cho tăng thân nhiệt .. Ngày nay khoa học có thể tạo ra được những trái cây trái mùa hoặc sự giao thương buôn bán giữa nước này với nước khác dễ dàng chúng ta có đủ loại cây trái nên không còn biết loại nào thuận mùa loại nào trái mùa để phân biệt tính hàn, nhiệt, ôn, táo , phong ,thấp để dùng cho hợp với sức khỏe khi bị bệnh.

KHÍ CỦA THẦN do biến đổi tâm lý làm thay đổi xáo trộn khí trong cơ thể, đông y gọi là thất tình ( 7 loại tình cảm thay đổi ) như vui ,lo ,buồn ,sợ, giận, thương, ghét , làm xáo trộn tuần hoàn khí huyết trong cơ thể . Khi vui qúa hóa dại có ảnh hưởng đến tim ,lo qúa ăn mất ngon hại tỳ ,buồn chán hay thở dài hại phổi, sợ qúa vãi đái hại thận, giận qúa bầm gan tím mật sẽ hại gan .

Cũng nhờ biết rõ sự khí hóa của cơ thể có liên quan đến tinh-khí-thần và khí, tính,vị ,trong thực phẩm, cây trái ,ở thời tiết, ở con người ,nên đông y biết cách điều chỉnh giữ cho sự khí hóa lúc nào cũng quân bình và hòa hợp để duy trì sức khỏe và tuổi thọ.

B.Phương pháp uống :

Các loại thức uống cũng có ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe, nếu biết cách chế biến thức uống cho phù hợp với tình trạng bệnh ,nó sẽ trở thành vị thuốc làm tăng thêm khí ,nếu uống những chất không hợp với cơ thể lúc cần thiết nó sẽ làm hại khí trở thành bế tắc đình trệ không lưu thông được khiến việc chữa bệnh khó khăn hơn.

Ngay trong loại nước uống ,nếu xét đến khí-tính-vị ,chúng ta để ý thấy có 3 loại nước có 3 tác dụng khác nhau.:

Loại nước không làm giảm cân :

Khi chúng ta khát, uống vào một lít nước trong ngày thì đi tiểu ra cũng mất một lít ,trọng lượng không bị giảm. Trong trường hợp cơ thể đang bị bệnh sốt, có vi trùng cần uống nhiều nước loại này để lọc máu, giải nhiệt, loại bỏ vi trùng theo đường tiểu ,thông thường là nước lã. Nhưng nếu ta biết áp dụng tính hàn nhiệt của nước ,thì phải uống nước mát, lạnh ( hàn ),để quân bình thân nhiệt làm giảm bớt điều kiện phát triển của vi trùng ,nếu uống nước nóng làm tăng sốt thêm. Nếu biết thêm một vị thuốc nào có khí đi lên (thăng), và vị đắng dẫn vào tim, thì nước uống này đã trở thành thuốc chữa cho tim mát ,hạ nhiệt ,giúp cho tim không rối loạn, tâm thần bớt mê man.

Loại nước làm tăng cân :

Khi chúng ta khát, uống vào một lít một ngày nhưng chỉ đi tiêủ ra 80-90 % ,số lượng nước bị giữ lại tích lũy dần làm tăng cân. Có nhiều nước loại này như nước cam, sữa tươi ,nước cốt dừa, sữa đậu nành lạnh..nhưng tăng cân còn tùy vào khả năng thải lọc của thận mạnh hay yếu .

Loại nước làm giảm cân :

Khi chúng ta uống vào cơ thể một lít, đi tiểu ra hơn một lít, cứ vào ít, ra nhiều lâu dần thể trọng giảm. Chất làm giảm cân có nhiều trong các loại trà, càng chát càng có tính co bóp chắt lọc nước ra khỏi cơ thể. Có nhiều loại trà có công hiệu giảm cân, trà hạ áp huyết, trà chữa bệnh tiểu đường, trà chữa bệnh cholestérol, trà chữa bệnh táo bón, trà chữa bệnh tiêu chảy, trà tiêu hóa, trà an thần giúp ngủ ngon...Do đó người Trung hoa ăn rất nhiều chất béo sẽ làm tăng cân, nhưng họ co thói quen dùng nước trà đặc làm loại mỡ và nước dư thừa ra ngoài cơ thể theo luật quân bình khí hóa, nên ít bị bệnh.

Điều quan trọng của cách uống nước là không được uống số lượng nước qúa nhiều mỗI lần, vượt qúa sức chứa của thể tích trực trường làm nhu động ruột yếu sau sẽ bị bệnh sa ruột, thoát vị bẹn, liệt ruột làm bón giả lâu ngày thành ung thư trực trường.

Read More

CCĐY 1 – THÓI QUEN UỐNG NƯỚC NHIỀU LỢI HAY HẠI?

Nước đã chiếm một tỷ lệ ít nhất 70% trọng lượng của cơ thể con người. Nó được bão hòa nằm trong máu, xương, da, thịt như một chất dẫn điện giải để cơ thể điều hòa thân nhiệt, nhận chất dinh dưỡng và thải lọc độc tố giúp cho sự hoạt động của hệ tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, bài tiết và sinh dục hoạt động tốt.

Ở mỗi người tỷ lệ nước được bão hòa khác nhau do hệ thần kinh điều phối theo nhu cầu của cơ thể, thí dụ một người bình thường ít hoạt động, mỗi ngày uống một lít nước, cân nặng 50 kg, nếu hôm nào uống đến 2 lít tự nhiên đi tiểu nhiều hơn và trọng lượng cơ thể vẫn 50 kg không thay đổi ,ngược lại, nếu vận động nhiều như tập thể dục thể thao, thân nhiệt tăng, đổ mồ hôi, mất nước, cổ họng khô khát, cơ thể tự động đòi hỏi uống nước để tái lập tỷ lệ nước, trọng lượng vẫn không thay đổi. Trọng lượng cơ thể không tăng do uống nước nhiều mà chỉ tăng khi có bộ tiêu hóa tốt,( loại nước H2O bình thường, không phải nước súp hoặc nước cốt trái cây..) và khi tỷ lệ nước bão hòa này bất ổn định là cơ thể đã bị bệnh.

Nước bão hòa ở cơ thể có nhiệm vụ điều hòa thân nhiệt và thải độc tố, giải nhiệt và độc tố trong máu qua trung gian hệ mạch để qua thận, nên trung bình mỗi giờ thận phải lọc khoảng 6 lít, cho nên khi chúng ta uống nước mầu trắng, phải đi tiểu ra mầu hơi vàng, đó là chức năng lọc của thận tốt, khi chúng ta bị bệnh, nước tiểu sẽ vàng sậm. Ngược lại, khi thận hư, chức năng lọc nước của thận yếu, có hai dấu hiệu dễ thấy là hay đi tiểu đêm, và sáng thức dậy đi tiểu ra nước trong chứ không vàng. Nước còn thoát ra ngoài cơ thể bằng đường mồ hôi và theo đường hệ tiêu hóa sang bài tiết, thí dụ khi ta uống 1 ly nước vào bao tử, nước theo hệ tiêu hóa xuống ruột non, thấm qua màng ruột non theo dưỡng trấp vào máu, phần cặn bã đồ ăn và nước tiếp tục xuống ruột già co bóp thành phân, qúa trình co bóp, nước ở ruột già thấm qua màng ruột nằm trong màng bọc tam tiêu ở hạ tiêu thấm vào bàng quang để xuất ra bằng đường tiểu chung với hệ thận niệu.


Những điểm lợi:

Khi cơ thể bị bệnh nhiễm trùng, đương nhiên xét nghiệm máu, phân và nước tiểu đều có vi trùng.

Sức phòng chống bệnh tự động của cơ thể có hữu hiệu hay không còn tùy thuộc vào hệ thần kinh của mỗi người. Đầu tiên phải thải độc ra càng sớm càng tốt bằng cách xuất mồ hôi, tiểu nhiều mầu vàng sậm, nước bị mất, vi trùng hoành hành làm thân nhiệt tăng, khô cổ họng, cơ thể tự động thấy khát đòi uống nước bù vào số lượng nước đã thải ra để thải lọc độc tố, vi trùng, và duy trì điều hòa thân nhiệt trở lại bình thường.

Như vậy, uống nước nhiều là nhu cầu cần thiết khi cơ thể bị bệnh sốt nhiệt, nhiễm trùng. Để lợi dụng ưu điểm này của cơ thể, đã có một vị bác sĩ Việt nam từng tu nghiệp ở Mỹ 2 lần ( đi cải tạo về ) đã chữa khỏi nhiều em bé bị bệnh sốt xuất huyết bằng cách uống nhiều nước mà không cần thuốc. Trường hợp điển hình, có một bé gái 12 tuổI bị sốt, đi 3 lần 3 bác sĩ khác nhau, lần đầu dùng 3 viên Tétracycline 150 mg uống mỗi ngày trong 3 ngày, mỗi lần uống vào, cơn sốt hạ rồi lại tăng sốt như cũ, sau ba ngày đổi bác sĩ khác, cho dùng Pénicilline, cũng làm cho sốt hạ rồi tăng như cũ, sau ba ngày đổi bác sĩ khác cho dùng Moxine cũng không có kết qủa, sau 9 ngày sốt càng nặng hơn, nóng mê man, môi khô tím tái, vỡ tiểu cầu, vị bác sĩ thứ tư biết bé gái bị bệnh sốt xuất huyết ,thay vì phải đưa bé gái đi bệnh viện cấp cứu, vị bác sĩ ‘ nước lạnh ‘ trên dặn người nhà em bé, cứ mỗi nửa giờ uống một ly nước lọc khoảng 150 cc, một ngày khoảng 3-4 lít. Uống được nửa ngày, cơn sốt dịu lại, đến chiều người tỉnh dần và đi tiểu nhiều hơn, bệnh thuyên giảm thấy rõ, không cho ăn, và em bé cũng không muốn ăn chỉ nằm ngủ, sang ngày thứ hai cho ăn cháo loãng và tiếp tục uống nước, ngày thứ ba khỏi bệnh, nhưng sợ loại siêu vi còn sót lại trong cơ thể sẽ tái phát nên uống đủ năm ngày, bé ăn uống và khỏe mạnh như bình thường, sau 5 ngày đi học lại ,trong khi các bạn đồng lớp bị dịch sốt xuất huyết phải nằm bệnh viện và nghỉ học để phục hồi lại sức khỏe mất cả tháng.

Chúng ta thử tìm hiểu tại sao ?

Theo thường lệ trước khi thử máu, bệnh nhân phải nhịn ăn uống, vì sợ máu loãng, kết qủa xét nghiệm sẽ không chính xác, khi tìm ra được loại vi trùng gì, và số lượng có trong máu là bao nhiêu, độ lắng máu và tỷ lệ bạch cầu, hồng cầu đếm được bao nhiêu. Thời gian chờ đợi kết qủa, rồi chờ đợi chọn loại thuốc thích hợp đúng bệnh, thì vi trùng cứ phát triển, tăng nhiệt, mất nước, nước càng mất, nhiệt càng tăng. Nếu may mắn loại thuốc diệt vi trùng đúng loại, số vi trùng chết trong cơ thể cũng không đủ nước để loại ra ngoài, số còn lại vẫn phát triển sinh sôi nẩy nở, đó là lý do tại sao thời gian dùng trụ sinh phải lâu đến 10 ngày cho một lần điều trị. Ngược lại, khoa học xét nghiệm phát triển đến trình độ cao, thấy trong máu và nước tiểu vừa có vi trùng vừa có cả thành phần hóa chất của thuốc diệt trùng cùng làm bạn với nhau song song bơi lội theo đường máu đi khắp cơ thể mà không tiêu diệt nhau, vậy đâu là bãi chiến trường, thuốc không diệt vi trùng làm sao mà khỏi bệnh ? Thật ra, cơ thể bị bệnh hay chống đỡ được bệnh do hệ thần kinh điều khiển.

Mầm bệnh là vi trùng theo máu tác động lên thần kinh làm mất thăng bằng thân nhiệt, các tuyến hạch phòng chống bệnh của cơ thể phản ứng lại khiến cho bộ thần kinh điều khiển chương trình chống bệnh hoạt động tối đa, làm cho đau nóng cổ họng để cơ thể phải đòi uống nước nhiều giúp cho nó đủ nước điều hòa thân nhiệt và thải độc tố, vi trùng và theo luật quân bình năng lượng tự nhiên của cơ thể. Không may, khi con người vô tình tìm ra một loại thuốc mạnh nhưng không đúng với bệnh đang cần thì thuốc đó trở thành kẻ thù làm hại sức chống bệnh của cơ thể làm cho thần kinh mê sảng luôn.

Thí dụ, bệnh sưng đau cổ họng là triệu chứng cơ thể có vi trùng, đòi uống nước để giải nhiệt và loại độc tố, thay vì dùng thuốc chữa bệnh đau cổ họng, chúng ta dùng 2 muổng canh dấm táo ( vinaigre de cidre de pomme ) và 2 muổng canh mật ong, hòa với một ly nước nóng, mỗi lần hớp một ngụm ngậm trong cổ họng, nằm ngửa cho thấm vào cổ họng được dễ hơn trong năm phút rồi nhả ra, tiếp tục lập lại nhiều lần cho đến khi hết ly nước dấm táo mật ong là hết bệnh mà không cần dùng thuốc, nếu đau cổ họng có kèm theo cảm cúm, sốt thì sau khi ngậm xong để chữa bệnh đau cổ họng ,nên uống vào cho thuốc ngấm vào máu để chỉnh thần kinh điều hòa thân nhiệt ,ngày uống 2-3 ly, trong hai ngày sẽ hết bệnh, nó tương đương với thuốc bột Néo-Citran nhưng hay hơn và không hại bao tử..

Chúng ta cũng nên thắc mắc, bất cứ loại bệnh có vi trùng, khi thử máu và nước tiểu đều có vi trùng, nhưng tại sao vi trùng lao phổi chỉ ăn lủng phổi, trong khi máu dẫn nó đi qua óc, tim, gan, ruột, bao tử, lá lách mà nó lại không hại các cơ quan này, hay ngược lại siêu vi gan chỉ hại gan mà không phá bể tim, phổi.. Vậy có phải khi người ta chết vì một bệnh nào đó, là do thiếu nước để điều hòa thân nhiệt, lúc có bệnh nóng sốt qúa, lúc lạnh qúa,độc tố trong máu do vi trùng phát triển theo cấp số nhân, thần kinh chỉ huy phòng chống bệnh đã yếu, bị các độc tố làm hại, lại bị thêm thuốc chữa bệnh không đúng làm hại thần kinh, vô tình phá vỡ tỷ lệ nước bão hòa, tỷ lệ tụt dốc đến độ thấp nhất, uống nước vào thì ói ra, ăn canh vào cũng không xong làm tinh thần suy sụp mất sức đề kháng. Tinh thần rất quan trọng, tinh thần có thể vực dậy một quốc gia trong cơn nguy biến, như đời Nhà Trần, quân Nguyên sang xâm lấn nước ta, thái sư Trần thủ Độ tâu với vua Trần : Đầu thần chưa rơi xuống đất thì bệ hạ đừng lo, ngược lại, ngày 30 tháng tư năm 1975, dân chưa thấy mặt mũi cộng sản ra sao mà người tượng trưng cho cái thần của một nước đã bỏ chạy, khiến cho nước mất nhà tan. Cơ thể chúng ta cũng vậy, vi trùng gì cũng mặc, thần luôn luôn vững, cứ mỗi ngày uống nước nửa giờ 1 ly 100-150 cc, rồi tập thể dục thể thao, tâm bình thản, thần không hoảng hốt, thì bệnh nặng hóa nhẹ và thuyên giảm từ từ, đúng theo tinh thần Phật giáo ‘ Vạn pháp do tâm sinh, vạn pháp do tâm diệt ‘, có nghĩa là bệnh do tâm làm ra bởi ‘ sở tri kiến chấp’ , bệnh này là vi trùng này, bệnh kia là vi trùng kia, vi trùng này đã có thuốc chữa, vi trùng kia khoa học chưa tìm ra thuốc, chưa chữa được, mình tự hù dọa mình làm tinh thần không an tịnh, lúc nào cũng sống trong lo lắng sợ sệt đến mất thần là mất sức đề kháng của cơ thể.

Nếu trong máu có vi trùng, có độc tố, có siêu vi, có cholestérol, có đường trong máu cao, áp huyết cao, đều có thể áp dụng cách uống nước, cứ nửa giờ uống 1 ly, sau 9 giờ tối ngưng uống nước tránh đi tiểu đêm làm mất ngủ. Tuy nhiên thay vì uống nước lọc, bệnh cholestérol nên uống nước bưởi,trung bình ngày uống 1 lít, bệnh cao áp huyết nên uống nước trái táo ngày 1 lít, hoặc trà hoa cúc trân châu, hoặc trà hoa đại, mỗi ngày một gói sau bữa cơm, bệnh tiêu chảy nên uống nước gừng ấm hay trà gừng sau bữa cơm, bệnh tiểu đường nên uống trà cỏ ngọt hay trà địa cốt bì mỗi ngày hai gói..


Những điểm hại :

Đối với bệnh tật, đông và tây y tìm ra rất nhiều nguyên nhân khác nhau, phạm vi bài này giới hạn không thể đi vào chi tiết từng bệnh, nhưng chúng ta chỉ phân biệt bệnh nào uống nước nhiều được, bệnh nào không được :

1-Đối với bệnh tim :

Khi cơ thể lạnh, tứ chi lạnh là tâm mất hỏa khí nên sợ lạnh thì chính thần kinh không thích uống nước lạnh ,nếu có, chỉ thích uống nước nóng ấm mới cảm thấy dễ chịu khi nước qua cửa miệng, nhưng số lượng nước nếu uống nhiều sẽ dư thừa đông y gọi là thủy khắc hỏa khiến thần kinh suy yếu thêm, không đủ khả năng loại bỏ số nước dư ra ngoài theo đường tiểu, làm cơ thể lạnh thêm.

Chỉ có trường hợp bệnh tim mạch, cao áp huyết, cơ thể lúc nào cũng nóng do dùng thuốc hóa chất không hợp, tăng độc tố trong máu, phát sinh nhiệt, lúc đó mới cần uống nước nhiều để giải nhiệt và loại độc tố ra khỏi cơ thể.

2-Đối với bệnh thận suy:

Làm sao biết thận suy ? Mỗi khi uống nước vào là phải đi tiểu ngay, ban đêm phải đi tiểu nhiều lần, buổi sáng dậy đi tiểu, thay vì nước tiểu phải hơi vàng khi thận làm nhiệm vụ lọc tốt, nhưng nước tiểu mầu trắng là thận không lọc, uống nước mầu gì ra mầu nấy, đó là dấu hiệu dễ thấy để biết thận suy. Ngoài ra còn có các triệu chứng khác như đau lưng, vùng lưng nơi thận sưng, chân cẳng lạnh hoặc phù nề. Những người có triệu chứng này không thể uống nước nhiều làm hư tạng thận.

3-Đối với bệnh đường ruột :

Làm sao biết có bệnh đường ruột ? Có hai loại bệnh đường ruột, một loại uống nước nhiều được, một loại không được uống nhiều.

Loại bệnh đường ruột bị táo bón đi cầu ra phân cứng, khô, phân từng cục, do nhiệt kết ở đường ruột, hoặc bị kiết lỵ, cần phải uống nước nhiều để giải nhiệt độc do thức ăn chứa lâu trong ruột, nếu không độc tố truyền vào máu hại da mặt bị nổi mụn trứng cá, nặn mụn ngửi có mùi thối, đừng lầm với bệnh táo bón giả của người già, hai ba ngày mới đi cầu, mỗi lần đi ít một, phân không khô mà nhão, do không đủ khí lực để đẩy phân ra ngoài, nếu tưởng lầm là bón mà dùng thuốc xổ hoặc uống nước nhiều sẽ liệt cơ co bóp làm xệ ruột xuống háng thành bệnh sa ruột ( hernie ).Khi ruột bị xệ đè nặng ép động mạch háng làm tắc khí huyết lưu thông xuống chân, tạo ra chứng bệnh khác như chân tê phù, mất cảm giác, đầu gối có nước..

Loại bệnh đường ruột hay bị tiêu chảy có dấu hiệu hễ ăn thức ăn nguội lạnh, ăn rau nhiều, ăn đồ biển hoặc uống nước lạnh là cảm thấy đau bụng tiêu chảy. Bệnh mãn tính có dấu hiệu quanh vành môi mầu da hơi trắng xanh khác với da chỗ khác trên mặt, loại bệnh này không được uống nước nhiều, nếu uống nước nhiều sẽ bị liệt nhu động ruột do trong ruột phình to, chứa nặng phân không ra được, một thời gian lâu dẫn đến thối khúc ruột đó làm thành bệnh ung thư ruột phải cắt bỏ. Tại sao vậy ? Chúng ta hãy tưởng tượng khúc ruột như một qủa bong bóng dài, khi thổi hơi vào, nó căng ra, khi tháo hơi ra nó co vào như cũ, ngược lại, nếu đổ nước vào đầy, hai ba ngày mới đổ nước ra thì bong bóng đã bị dãn không co vào như cũ được. Ruột chứa nhiều nước do thói quen uống nhiều cũng như thế, và sự thẩm thấu qua vách thành ruột đến một mức bão hòa, trong ruột già và màng bụng óc ách nước, vừa làm thoát vị bẹn, vừa chèn ép vào động mạch háng làm liệt chân, cho nên bệnh này bắt buộc phải giải phẫu oan uổng.

4-Bệnh mất ngủ kinh niên :

Nhiều khi thuốc ngủ đúng liều, có kết qủa ức chế thần kinh làm cơn buồn ngủ đến ngay, nhưng vì uống nhiều nước một lần trước khi đi ngủ khiến cho đêm bị thức giấc để đi tiểu cũng sẽ không ngủ lại được, chính do cách uống nước và dùng thuốc ngủ đã mâu thuẫn nhau đi đến tình trạng mất ngủ kinh niên.

5-Bệnh buồn chán thở dài :

Có thể nói là đầu mối của nhiều loại bệnh. Người ta cần hít thở để trao đổi oxy trong máu, cho máu đen ( oxyde sắt nhị Fe2O2 ) nhận thêm oxy để trở thành máu đỏ ( oxyde sắt tam Fe2O3 ).Khi buồn, chỉ thở ra đem theo oxy bị đốt cháy thành CO2 ra khỏi cơ thể nhiều hơn hít oxy vào làm cho hồng cầu giảm, không đủ oxy nuôi tế bào não làm thần kinh càng suy nhược, oxy dự trữ trong máu bị đốt thành CO2 làm mất thân nhiệt, thần kinh uể oải, đờ đẫn, khí lực không đủ sức co bóp bao tử và ruột để giúp tiêu hóa tốt, phổi không nở mà teo lại làm tim mạch đập thất thường, tinh thần đã loạn càng thêm loạn, lúc đó uống nước nhiều sẽ làm trở ngại hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa, bài tiết..dĩ nhiên đưa đến nhiều loại bệnh kỳ quái khác nhau, nếu chữa bằng thuốc chỉ là chữa ngọn, điều cần nhất là phải vận động, hít thở, thể dục thể thao, cơ thể sẽ tự điều hòa lại mà không cần dùng thuốc.

6-Bệnh phong thấp đau nhức kinh niên :

Nguyên nhân do khí huyết tuần hoàn không đi được khắp nơi trong cơ thể, nhất là chỗ khớp nối, bệnh này có thể uống nước nhiều cho máu loãng ra để đủ số lượng máu lưu thông, nhưng phải uống nước nóng ấm pha ít gừng và phải tập cử động cùng xoa nắn nơi đau nhức cho khai thông, nhưng không được uống nhiều nước lạnh, mát, uống một lần với số lượng nhiều hoặc loại nước có tính hàn như nước cam ,nước chanh, nước dừa, hàn khí sẽ kết lại nơi các khớp tạo thành các điểm cứng đau.

7-Bệnh máu loãng :

Bệnh máu loãng hay chảy máu không được uống nhiều nước làm cho máu bị loãng thêm dễ bị chảy máu làm mất hồng cầu và bạch cầu. Ngược lại bệnh thiếu máu, và bệnh máu có bọt, nên uống nước nóng ấm nhiều làm cho lượng máu lưu thông trong các ống mạch đầy đủ, mặc dù máu pha loãng đã làm giảm số lượng hồng cầu, nhưng không làm hại tim phải co bóp đập mạnh để đẩy máu đi và hút máu về làm cho nhịp tim bớt rối loạn, ngoài ra phải năng tập vận động hai tay và buồng phổi để kích thích tim phổi hoạt động mạnh hơn, bệnh sẽ từ từ được cải thiện.

8-Bệnh sạn thận :

Người mắc bệnh sạn thận cũng không được uống nhiều nước, thận cần thở, tức là co bóp để tống sạn ra hoặc co bóp làm vỡ sạn khi sạn chưa thành hình to, chứ không phải uống nước nhiều làm trôi sạn. Theo đông y sạn thận do thận hàn, nếu nước trong thận ấm, chất vôi không đóng cục được, chất vôi chỉ kết tủa ở nhiệt độ hàn hoặc sức co bóp của thận yếu, nhẹ, không đủ sức đẩy chất bột cặn trong thận ra ngoài, lâu dần, ít thành nhiều kết tủa to dần không ra được. Chúng ta cần phải giúp thận co bóp mạnh, và mặt khác giúp thận làm tan chất cặn vôi. Đông y có hai vị thuốc để làm nhiệm vụ này, một chất là qủa dứa làm mềm sạn, một chất là phèn chua làm tan chất vôi thành bụi . Cách làm như sau : Dùng một nửa qủa dứa to loại không chua lắm không ngọt lắm,gọt vỏ ngoài, khoét một lỗ ở đầu, đổ vào một muổng cà phê bột phèn chua ( thứ phèn chua ở Việt nam hay dùng để lọc nước uống ),bỏ vào khay nướng trong lò nướng 350 độ C, khoảng 1 giờ, hơi vàng đậm, lấy ra vắt tất cả ra nước được chừng 150-200 cc. Chia 2 lần uống, tối trước khi đi ngủ uống một nửa để đêm sạn mềm ra, sáng dậy uống một nửa còn lại khi còn nằm ở giường để thận co bóp làm vỡ sạn thành bột trước khi đi tiểu , khi tiểu để ý thấy nước tiểu đục như cặn vôi hoặc lợn cợn, và cảm thấy đi tiểu nhiều hơn và thông hơn mấy ngày trước. Triệu chứng của sạn thận làm đau bụng dưới lan ra sau lưng, rồi đau từ lưng ngấm ngẩm đau lan ra phiá bụng, thở khó, nói cười to không được, tiểu dắt, tức bọng đái, rát lỗ đường tiểu, mầu da mặt tối nám đen như bột viết chì ,sau khi uống một nửa trái dứa và đi tiểu xong tự nhiên hết mệt, có thể cười nói ha hả tự nhiên , bệnh bớt 70 phần trăm, còn nửa trái làm nốt cho ngày hôm sau không hại gì mà có kết qủa thấy rõ.

Nếu ngại không muốn uống chất phèn chua, đông y có bán loại thuốc thành phẩm, chất chính trong thuốc là kim tiền thảo, tên thương mại là Thạch lâm thông ( làm thông sạn đường tiểu )khiến cho thận co bóp mạnh và đi tiểu nhiều tống được sạn ra ngoài.

9-Bệnh tiêu khát, tiểu đường :

Khi mắc bệnh tiểu đường có 4 triệu chứng ba nhiều một ít, một uống nhiều do khát, hai tiểu nhiều, uống vào 1 lít tiểu ra hơn 1 lít, ba ăn nhiều, bốn là ốm mất trọng lượng.Bệnh này bắt cơ thể uống nhiều suốt ngày, làm hư thận, áp huyết tăng, thân nhiệt tăng, cổ họng lúc nào cũng khô khát đòi uống. Trường hợp này không được uống nước nhiều mà phải tìm nguyên nhân, nó có nhiều nguyên nhân sẽ được đề cập đến trong một đề tài chuyên môn, ở đây chỉ nói đến hai nguyên nhân vô tình tự mình chuốc lấy bệnh, một là do lạm dụng thuốc lợi tiểu Lasix để giảm cân, hai là do thói quen uống nước nhiều mà không bỏ được, thuộc loại tâm bệnh thần kinh, đa số chúng ta gặp phải trường hợp này.

Thói quen tai hại nhất là uống nước với số lượng nhiều một lần, như sáng uống một hơi 1 lít, trưa một hơi uống 1 lít, chiều uống một hơi 1 lít, sẽ không chữa được bệnh gì, mà hậu qủa về sau sẽ tai hại. Chúng ta nhớ rằng chỉ uống nước nhiều khi cần thiết để bù số nước bị mất do đổ mồ hôi như các lực sĩ , hoặc khi bị mất nước do tiêu chảy kéo dài, vì trường hợp này nếu để mất nước sẽ bị vọp bẻ, hoặc kiệt sức.

Chúng ta đã biết một giờ thận lọc 6 lít nước bão hòa trong cơ thể, chưa kể nước ở ngoài uống vào thêm. Với nhịp độ bình thường, công suất của máy lọc tạo ra nhịp sinh học đều đặn trong cơ thể, bỗng dưng buổi sáng thận nhận thêm 1 lít nước, nó cũng phải hòa tan vào bao tử làm bao tử lớn ra, xuống ruột làm nhu động ruột dãn ra, nó thẩm thấu qua ruột sang màng bụng thấm vào bàng quang làm đầy căng vô tình làm tắc đường dẫn nước của thận lọc từ máu ra khiến bể thận nở to không còn khả năng lọc, thận bị mở cửa tự do dĩ nhiên nước uống vào qua thận đã mở sẵn không lọc nên khi tiểu ra không thấy mầu nước tiểu hơi vàng như trước nữa, sau sinh bệnh thận hư, đau lưng, mỏi gối, tiểu đêm.

Người Hoa không có thói quen uống nước nhiều, bù lại họ uống nước canh bổ nhiều hơn các dân tộc khác, sau bữa cơm họ chỉ uống 1 chung trà, nó có lợi là tiêu mỡ và chất béo có trong bữa ăn, trà uống vào ít mà đi tiểu ra nhiều có lợi cho tiêu hóa tốt, thải độc tố, và làm nhẹ bao tử.

Nếu chúng ta bị nhiễm độc, thân nhiệt tăng, có vi trùng trong cơ thể, cần phải uống nước nhiều ,nên chia nhiều lần trong ngày 20-30 lần, mỗi lần 50-100 cc, là cách an toàn nhất để mau khỏi bệnh mà không làm xáo trộn thần kinh phát sinh biến chứng thành bệnh khác.

Read More

CCĐY 1 - ĐẶT VẤN ĐỀ UỐNG NƯỚC NHIỀU : ĐÚNG HAY SAI ?

Nhiều người đã đọc bài viết UỐNG NƯỚC NHIỀU LỢI HAY HẠI lấy làm thắc mắc vì nó trái với khoa học. Khoa học đòi hỏi rõ ràng một là đúng hai là sai.

Quả thật, 70-80% trọng lượng cơ thể là nước, nên theo tây y, cơ thể bắt buộc phải cần nhiều nước trung bình từ 2 đến 3 lít mỗi ngày để giúp cơ thể lọc máu loại độc tố, duy trì chất điện giải và điều hòa thân nhiệt, nếu không đủ nước cơ thể sẽ sinh bệnh.. Muốn cho cơ thể được khỏe mạnh, mọi người trong chúng ta dù theo đông y hay tây y cũng đều phải có đủ số lượng nước như thế.

Đó là một lý thuyết, một định luật tuyệt đối đúng trong quy luật bảo toàn năng lượng.

Nhưng tại sao từ lý thuyết đến áp dụng trong chữa bệnh lại có sự mâu thuẫn giữa đông tây y ? Muốn hiểu rõ vấn đề này, trước hết chúng ta phải biết nguyên tắc chữa bệnh của đông y là tái lập lại sự quân bình cho cơ thể bị bệnh do mất quân bình.

Một thí dụ dễ hiểu trong cấu trúc sức bền vật liệu của một vật hay một công trình được tạo ra, có 3 giai đoạn

1-Giai đoạn nghiên cứu sáng tạo, giống như một kỹ sư công chánh trong phòng thí nghiệm muốn tính làm một con đường với độ bền của bê tông đã được thử nghiệm phải cần 7-8 % nước trong một hỗn hợp đá, cát, ciment để có sức chịu nén của bêtông là 2500psi (pound per square inch) và thời gian bảo đảm của độ bền 20 năm chẳng hạn, trên lý thuyết.

2-Giai đoạn thực hiện, kỹ sư ngoài công trường, cho trộn mỗi mẻ bêtông là 100kg, sau khi cho 92 kg đá, cát, ciment vào thùng trộn bêtông, người thợ sẽ phải bắt buộc đổ vào 8 lít nước .

3-Giai đoạn kiểm nghiệm, kỹ sư kiểm tra chất lượng bêtông có đạt được đúng tiêu chuẩn 2500psi, và vẽ biểu đồ theo dõi thời gian xem độ bền có kéo dài được 20 năm hay không

Nếu công trình này được thực hiện giống nhau cùng một lúc ở 2 nơi , một ở bên Tây , một ở bên Ta, và muốn có kết qủa giống nhau, thì vấn đề thay đổi tỷ lệ nước vào bêtông ở công trường sẽ khác nhau tùy vào môi trường thời tiết như mưa nắng làm cát, đá bị thấm nước, kỹ sư công trường phải tính toán để giảm số lượng nước mỗi ngày mỗi khác. Nếu người không ở trong nghề thấy khác giữa công trường bên Tây và bên Ta. Bên Tây, lượng nước vẫn 8 lít một mẻ hồ, vì cát, đá hoàn toàn không bị ảnh hưởng mưa thay đổi mỗi ngày như ở bên Ta. Nếu không điều chỉnh lượng nước ít đi, công trình sẽ không đúng tiêu chuẩn sức bền vật liệu đã đề ra. Nếu khi trời mưa lớn, cát bị thấm nước nhiều vượt hơn 8%, mẻ hồ phải cho thêm cát, thêm ciment và không cho nước, để tỷ lệ các thành phần trong hỗn hợp giữ đúng tiêu chuẩn để bảo đảm sức bền vật liệu 2500psi. Đó cũng là lý do có nhiều công trình xây cất ở VN bây giờ bị hư hại, xập cầu khi tỷ lệ thành phần cấu trúc không được điều chỉnh đúng mỗi ngày hoặc mỗi lúc khi trời mưa hay nắng…

Đối với Thầy thuốc đông y cũng vậy, khi ứng xử lâm sàng là xét đến tỷ lệ thành phần chức năng và cơ sở của lục phủ ngũ tạng khi hoạt động bất bình thường, do dư thừa hay do thiếu những chất như : hỏa, thổ, kim, thủy, mộc, sinh bệnh thực chứng hay hư chứng, làm mất sức bền vật liệu, thì Thầy thuốc phải biết điều chỉnh lại tỷ lệ của các thành phần trở lại trạng thái quân bình để giữ vững độ bền vật liệu, tức là đời sống thọ, khỏe mạnh không bệnh tật. Như vậy uống nước nhiều hay ít không có cái nào đúng hay sai tuyệt đối, mà phải tùy lúc điều chỉnh để chữa ngọn trong thời gian ngắn hạn, còn giữ đúng tiêu chuẩn sức bền vật liệu được dài lâu là chữa gốc để con người không bệnh tật.

Bây giờ chúng ta quan sát cách ăn uống của Tây và Ta. Thí dụ Ta vào nhà hàng, trước khi ăn phở (chứa ¾ lít nước) chúng ta uống nước trà 1-2 ly trong khi chờ đợi phở, sau khi ăn, phải uống nước tráng miệng 1-2 ly, hoặc ăn cơm ở nhà, tính lượng nước canh mà chúng ta ăn, như vậy số lượng nước một ngày đã đủ. Còn Tây vào nhà hàng ăn fastfood, ít ăn soupe, nên sau khi ăn xong phải kè kè một chai nuớc để uống cho đủ 2 lít một ngày, nếu không đủ 2 lít, cơ thể thiếu nước sẽ bị bệnh. Bây gìờ Ta ăn kiểu Ta, cộng thêm 2 lít nước theo kiểu Tây sẽ bị thừa nước, tự mình phá vỡ sức bền vật liệu của cơ thể mình. Cũng vì lý do uống nhiều nước khi cơ thể không khát, không cần, đã gây ra nhiều bệnh sa đường ruột, ứ nước trong đầu gối, bụng dưới to nặng chèn ép động mạch háng và trì kéo thần kinh giữa các đốt sống lưng làm đau lưng hư cột sống, và quan trọng nhất là tổn thương chức năng lọc của thận.

Thận được ví như một bóng đèn, trên nguyên tắc bóng đèn khi sản xuất có ghi sức bền vật liệu là 1000 giờ chẳng hạn với điều kiện đúng tiêu chuẩn bật đèn một lần, cho dòng điện chạy qua được điều chỉnh tự động đúng 110volts, hết 1000 giờ thì bóng mới hỏng. Trên thực tế, chỉ cần điện thế tăng bất thường, hoặc tắt mở nhiều lần liên tục, bóng đèn sẽ đứt. Thận cũng vậy, chức năng lọc máu và nước của thận là 6 lít mỗi giờ, nếu mọi thành phần tỷ lệ cấu kết đúng tiêu chuẩn thì sức bền vật liệu không thay đổi, chúng ta sẽ khỏe và tuổi thọ được dài lâu, bây giờ tăng công suất, bằng cách uống thêm nước 2 lít mỗi ngày ngoài số nước trong cơ thể sẵn có, thận sẽ phải lọc hơn 6 lít một giờ, sức bền vật liệu bị giảm, trong thời gian dài thận sẽ bị ứ nước dẫn đến ngộ độc nước trở thành thận chết, phải đi lọc thận hoặc thay thận khác, và kéo theo những chức năng của tạng phủ khác bị thay đổi theo tạo ra nhiều biến chứng khác.

Đối với những người theo trường phái Oshawa uống ít nước mà vẫn khỏe không bệnh tật, như vậy có đúng với lý thuyết Tây y không ? Cũng đúng ! Thật ra trong người họ cũng đủ tỷ lệ nước cần thiết như mọi người. Trong thí dụ thành phần tỷ lệ bêtông, khi trời mưa, cát thấm nhiều nước đủ 8%, nên trong mẻ hồ không cần đổ thêm nước. Trong cách nấu cơm gạo lức cũng thế, cần phải nhiều nước để cho hạt cơm mềm, khi nhai cơm gạo lức tan ra hoàn toàn là nước, nhưng nấu cơm gạo lức khô vì cho ít nước, nhai đến mỏi răng, và trong ngày không được uống nhiều nước sẽ làm cho cơ thể thiếu nước sinh bệnh gầy ốm xanh xao mất sức, đó là do cách nấu và ăn gạo lức sai, tuy nhiên phương pháp này lại đúng nếu áp dụng cho những người muốn giảm mập nhanh trong vòng một tháng sẽ có kết qủa.

Vậy chữa bệnh theo đông y chỉ là điều chỉnh lại tỷ lệ của ngũ hành trong cơ thể trở lại hoạt động lúc nào cũng đúng tiêu chuẩn sức bền vật liệu, tùy vào những yếu tố đã làm mất quân bình mà gây ra bệnh.

Cho nên uống nước 2 lít một ngày cộng thêm với nước sẵn có trong khi ăn uống là dư thừa, đông y gọi là bệnh thực, phải bớt nước. Ngược lại, cơ thể suy nhược không ăn uống được bao nhiêu, mà không uống đủ 2 lít nước cho cơ thể hoạt động, đông y gọi là bệnh hư, phải thêm nước .

Đã có một bạn gửi email cho tôi một bài viết sau đây và hỏi những chỉ dẫn như vậy đúng hay sai. :

Kính thưa thầy Đỗ Đức Ngọc.

Tình cờ đoc được bài viết ở Việt Báo bài "Thói quen uống nước nhiều, lợi hay hại?" giải thích về những lợi và hại khi uống nước lạnh. Có một câu hỏi xin thầy làm ơn giải thích, trước đây tôi có áp dụng phương pháp uống nước lạnh (đã và đang uống đươc hơn 3 tháng ) mới đi bác sỹ thử máu, thận, gan đều tốt cả. Xin thầy đoc bài đính kèm và xin cho biết bài viết này có giá trị không? Vì theo bài viết của thầy đăng trên VietBao thì buổi sáng uống nhiều nước như vậy sẽ hại (bài viết kèm theo nói uống 600ml khi vừa thức dậy ) làm tôi không biết áp dụng như vậy có đúng không. Xin thầy làm ơn bỏ chút thì giờ trả lời dùm. Kính chúc thầy và thân nhân sức khoẻ dồi dào và hạnh phúc trong mùa giáng sinh sắp đến.

Đính kèm bài viết

DRINK WATER ON EMPTY STOMACH

It is popular in Japan today to drink water immediately after waking up every morning. Furthermore, scientific tests have proven its valuẹ We publish below a description of use of water for our readers. For old and serious diseases as well as modern illnesses the water treatment had been found successful by a Japanese medical society as a 100% cure for the following diseases:

Headache, body ache, heart system, arthritis, fast heart beat, epilepsy, excess fatness, bronchitis asthma, TB, meningitis, kidney and urine diseases, vomiting, gastritis, diarrhea, piles, diabetes, constipation, all eye diseases, womb, cancer and menstrual disorders, ear nose and throat diseases.

METHOD OF TREATMENT

1. As you wake up in the morning before brushing teeth, drink 4 x 160ml glasses of water.

2. Brush and clean the mouth but do not eat or drink anything for 45 minutes.

3. After 45 minutes you may eat and drink as normal.

4. After 15 minutes of breakfast, lunch and dinner do not eat or drink anything for 2 hours

5. Those who are old or sick and are unable to drink 4 glasses of water at the beginning may commence by taking little water and gradually increase it to 4 glasses per daỵ

6. The above method of treatment will cure diseases of the sick and others can enjoy a healthy lifẹ

The following list gives the number of days of treatment required to cure/control/reduce main diseases:
1. High Blood Pressure - 30 days
2. Gastric - 10 days
3. Diabetes - 30 days
4. Constipation - 10 days
5. Cancer - 180 days
6. TB - 90 days
7.Arthritis patients should follow the above treatment only for 3 days in the 1st week, and from 2nd week onwards - dailỵ

This treatment method has no side effects, however at the commencement of treatment you may have to urinate a few times.

It is better if we continue this and make this procedure as a routine work in our lifẹ

Drink Water and Stay healthy and Activẹ
This makes sense ... the Chinese and Japanese drink hot tea with their meals ..not cold water. maybe it is time we adopt their drinking habit while eating!!!

Nothing to lose, everything to gain...

For those who like to drink cold water, this article is applicable to yoụ

It is nice to have a cup of cold drink after a meal.

However, the cold water will solidify the oily stuff that you have just consumed. It will slow down the digestion.
Once this "sludge" reacts with the acid, it will break down and be absorbed by the intestine faster than the solid food. It will line the intestinẹ

Very soon, this will turn into fats and lead to cancer. It is best to drink hot soup or warm water after a meal.
A serious note about heart attacks: Women should know that not every heart attack symptom is going to be the left arm hurting.

Be aware of intense pain in the jaw linẹ
You may never have the first chest pain during the course of a heart attack.

Nausea and intense sweating are also common symptoms.
60% of people who have a heart attack while they are asleep do not wake up.

Pain in the jaw can wake you from a sound sleep. Let's be careful and be awarẹ The more we know, the better chance we could survive...

A cardiologist says if everyone who gets this mail sends it to everyone they know, you can be sure that wéll save at least one life.

Kính
Duy Nguyen

Tiện đây tôi xin giải thích theo đông y :

Uống nước theo phương pháp này với số lượng nước nhiều nhất vào buổi sáng 640cc sau 45 phút thì thận đã lọc và đi tiểu ra ngoài, nước tiểu hơi vàng thì không có hại.

Nhưng hãy để ý khi uống vào mà đi tiểu ngay ra nước tiểu trắng hoặc trong ngày không thấy đi tiểu là thận mất chức năng lọc, nếu uống tiếp sẽ hại đường ruột thuôc kim và hại thận thuộc thủy, theo quan hệ ngũ hành mẹ-con.

Chỉ dùng phương pháp này để chữa những bệnh kể trên, khi mình có bệnh, đó là cách điều chỉnh lại cho cơ thể hết bệnh để trở lại sự quân bình khí hóa của tổng thể ngũ hành. Còn không có bệnh, thì không nên bắt chước.

Tùy theo nhu cầu cần nước của cơ thể thì uống ít một, hoặc ăn cơm có canh hay soupe, số lượng nước cũng tương đương 640cc, nhưng cách chuyển hóa lượng nước trong thức ăn chậm và an toàn hơn, chứ không chuyển thẳng 640cc để rửa bao tử rồi chảy xuống ruột, giống như khi chúng ta du lịch, qua hải quan ở phi trường được hỏi có đem gì trong hành lý để khai thuế không. Nếu không đem gì sẽ được qua nhanh hơn. Còn nếu có hàng khai thuế, dù ít dù nhiều, cũng phải xếp hàng chờ đợi quan thuế xét đến phiên mình. Cho nên sự chuyển hóa trong cơ thể về nước uống khác với nước canh.

Cách này tốt cho bệnh táo bón, bệnh thuộc nhiệt chứng. Nhưng không tốt cho bệnh tiêu chảy mãn tính, viêm màng phổi có nước, bệnh phù tim, thận, sưng lá mía, sưng thận, sưng đầu gối có nước, bệnh áp huyết thấp, bệnh chóng mặt, hay quên và tất cả các bệnh thuộc chứng hàn của đông y. Nếu những người nào có những bệnh này mà áp dụng phương pháp kể trên, đông y gọi là hư làm thêm hư, bệnh nặng thêm.

Ghi chú :

Bệnh tiêu chảy mãn tính (đi phân loãng nhão hay chỉ ra nước mà không ra phân, không đau bụng) do cơ thể dư nước không chuyển hóa vì chức năng tỳ hư, khác với bệnh tiêu chảy cấp tính làm mất nước điện giải cần phải uống dung dịch nước muối đường để bù số nước bị mất và cầm tiêu chảy. Dung dịch muối đường có kết qủa cầm tiêu chảy cấp tính cũng hợp lý với nguyên tắc lý luận ngũ hành của đông y :

Muối mặn có công dụng giữ nước nhưng sẽ làm tăng áp huyết do thận thủy dư khiến tâm hỏa tăng để giữ quân bình thủy hỏa, chất đường ngọt vào tỳ thổ để khắc chế thủy cầm tiêu chảy, nuôi dưỡng và phục hồi làm mạnh cơ bắp, chống mệt mỏi.

Dưới đây là một trường hợp tiêu biểu về bệnh tiêu chảy mãn tính ở người lớn tuổi, không nên uống nhiều nước :

Bệnh tiêu chảy ở người lớn tuổi

Câu hỏi :

Kính thầy Đổ Đức Ngọc,

Ông thân sinh của cháu 63 tuổi, bị đau bụng tiêu chảy ra toàn là nước, không có phân, một ngày đi cả hơn 10 lần, làm thế nào để ngưng lại? Có thể ăn cháo Ý dỉ dể lành bệnh được không? Và sau khi lành bệnh thì bằng cách nào để sức khoẻ phục hồi?

Xin cảm ơn thầy,

Ngọc Hoa

Trả lời :

Thân gửi Cháu Ngoc Hoa,

Trường hợp đi tiêu chảy của ba cháu thuộc 1 trong 2 chứng bệnh của đông y là chứng thấp hay thấp hàn, có những dấu hiệu bệnh riêng biệt và cách chữa hơi khác nhau. Bác gửi cho cháu 2 trường hợp này để cháu có thể áp dụng chữa cho ba cháu.

CHỨNG THẤP :

Dấu hiệu lâm sàng :

Đi phân ra như nước chảy, không thối, ít đau bụng, nước tiểu ít, trong. Rêu lưỡi trắng bẩn, sắc lưỡi đỏ nhạt, mạch hoãn.

Đối chứng trị liệu : Phải hóa thấp lợi tiểu .

a-Chữa bằng ăn uống :
Nấu Ý dĩ, Phục linh thành cháo, mỗi thứ 10g.

Phục linh :

Tên khoa học Poria cocos Wolf, vị ngọt nhạt, tính bình, vào các kinh tâm, phế, thận, tỳ, vị, có tác dụng lợi thủy, thẩm thấp, kiện tỳ, định tâm an thần, chữa suy nhược, chóng mặt, di mộng tinh, chữa phù thủy thủng, tiêu chảy kéo dài, chữa ung thư, bảo vệ tủy xương, cải thiện chức năng gan thận, tăng sức tăng cân, tăng thị lực, tăng cường miễn dịch, tác dụng an thần, chống loét bao tử, hạ đường huyết và bảo vệ gan.có chứa hoạt chất Polysaccharide, Pachymaram có tính chất kháng ung thư mạnh, các acid pinicolic, poriatin, adenine, ergosterol, cholin, lecithin, cephalin, histamine, histidine, sucrose, fructose, protease, dầu béo, muối vô cơ, tác dụng lợi tiểu, chống nôn, kháng khuẩn, kháng estrogene.

Ý dĩ :

Tên khoa học Coix lacryma-jobi L.,vị ngọt, nhạt, tính mát, vào các kinh tỳ phế thận để bổ phế kiện tỳ, thanh nhiệt, lợi thấp, chỉ tả, bài mủ, chữa rối loạn tiêu hóa, phù thủng, bí tiểu, ung thư ruột, phong thấp lâu ngày không khỏi, gân co quắp khó cử động. Chứa tinh bột 50-79%, protein 16-19%, chất sắt, dầu béo coixennolid, lipid, glycolipid, phospholipid, sterol, thiamine, acid amine, adenosin, chất vô cơ, lá và rễ chứa henzoxazolon, lignan và syringyl glycerol có tác dụng đối với đầu cơ vân và đầu cuối dây thần kinh vận động, đối với hệ thần kinh trung ương làm giảm đau, kéo dài thời gian gây ngủ, dễ thở, đối với hệ tim mạch làm hạ áp huyết, ức chế biên độ co bóp tim mạch, chống ung thư do hoạt chất coixenolid, hạ đường huyết nhẹ.

b-Chữa bằng huyệt :
Thổ tả ( tiêu chảy) :
o Âm cốc (Th.10)
o Túc tam lý (V.36)
o Quan nguyên (MN.4)
o Thiên xu (V.25)
o Cưu vĩ (MN.13)

( Chú thích : Dấu o đứng trước huyệt là bổ bằng hơ cứu ấm trên huyệt, xem vị trí huyệt theo hình vẽ trong bài Đồ hình huyệt 14 đường kinh mach. Sau mỗi tên huyệt có chữ viết tắt tên đường kinh, như Kinh Thận (Th), kinh Vị (V), Mạch Nhâm (MN), số đi kèm là số thứ tự huyệt của mỗi đường kinh )

CHỨNG HÀN THẤP :

Dấu hiệu lâm sàng :

Đau sôi bụng, đi phân loãng nhiều nước, miệng nhạt, không khát, ít nước tiểu, rêu trắng bẩn, lưỡi đỏ nhạt, mạch khẩn hoặc phù. Do ăn thức ăn sống nguội lạnh. Nếu nhiễm thêm hàn tà thì có thêm dấu hiệu sốt lạnh đau đầu không ra mồ hôi.

Đối chứng trị liệu : Phải tán hàn, hóa thấp.

a-Chữa bằng ăn uống :
Nấu cháo gạo tẻ với Phục linh, Trần bì (vỏ quýt), gừng, mỗi thứ 10g

b-Chữa bằng huyệt :
Chữa sôi, sình bụng, phù, điều hòa vinh vệ, ôn dương cố biểu.
o Hợp cốc (ĐT.4) o Phục lưu (Th. 7)

Câu hỏi :

Kính bác Đỗ đức Ngọc,

Trước hết xin cám ơn bác đã có lòng quan tâm, cho cháu địa chỉ email để gửi thư nhờ giải đáp thắc mắc của cháu gửi đến bác.

Cháu vui mừng báo tin bác rõ. Ba cháu đã lành bệnh tiêu chảy sau khi vừa uống thuốc vừa ăn cháo Ý dĩ Phục linh theo hướng dẫn của bác.

Hiện nay ba cháu cũng còn đang bị bệnh thấp khớp ở đầu gối hành hạ, chân đi cà nhắc. Tết vừa rồi cháu có đưa ba cháu về VN để châm cứu. Sau 5 ngày, chân ba cháu gần như bình phục hoàn toàn. Nhưng đến nay, trở lại Mỹ được khoảng 1 tuần thì chân ba cháu lại đau như cũ, có khi còn tệ hơn trước khi châm cứu nữa.
Ngoài bệnh này ra, cách nay gần 10 năm. Ba cháu đã trải qua một lần mổ tim vì bị nghẹt 4 động mạch (by pass) và hiện nay vẫn phải tiếp tục uống thuốc tây mỗi ngày.

Cháu xin hỏi bác, trường hợp ba cháu bị thấp khớp như vậy có ảnh hưởng tới tim không, và có cách gì chữa trị không, thưa bác ?

Cháu một lần nữa xin cám ơn bác đã giành cho cháu đặc ân được email trực tiếp đến bác. Cầu chúc bác sức khỏe an khang để có điều kiện tiếp tục giúp ngườI và cứu người.

Kính thư,

Ngoc Hoa

Trả lời :

Chúc mừng ba cháu đã khỏi bệnh tiêu chảy.

Bệnh tim mạch và bệnh thấp khớp có ảnh hưởng với nhau, và cách dùng thuốc của tây dược chưa có thuốc nào chữa khỏi được 2 bệnh cùng một lúc. Người ta thường nói, tây y chữa ngọn, đông y chữa gốc.

Chúng ta hãy để ý theo dõi kết qủa của những bệnh nhân thuộc loại bệnh này mà chúng ta quen biết thì thấy rõ bệnh của họ càng ngày nặng thêm. Tại sao lại như vậy ?

Con người là một tổng thể hòa hợp âm dương, không thể chữa âm riêng, không thể chữa dương riêng. Tính theo cách chữa từng bệnh của 2 bác sĩ chuyên khoa tim mạch và bác sĩ chuyên khoa thấp khớp thì không sai .

Nhưng thuốc uống của 2 bác sĩ vào người thì phản tác dụng .

Theo đông y ,bệnh tim mạch thực chứng thuộc dương và dư dương, thân nhiệt nóng, cao áp huyết, táo bón, tim đập nhanh, đối chứng trị liệu phải dùng thuốc âm để giảm dương làm thân nhiệt mát, hạ áp huyết, hết táo bón, lợi tiểu . Khi dùng thuốc bệnh tim được ổn định, người mát, áp huyết bình thường. Tiếp tục dùng nữa trong thời gian dài , áp huyết thấp, đi tiểu nhiều, tiêu chảy, ăn không tiêu, tim đập chậm, người lạnh , sự tuần hoàn khí huyết không lưu thông đi khắp chỗ, nhất là các khớp tay chân . Như vậy khí lưu thông trong người yếu giảm dần. Nếu vẽ theo một biểu đồ thì bệnh trước kia thuộc dương, uống thuốc làm dương giảm xuống 0 là hết bệnh, uống tiếp bệnh xuống dưới 0 thuộc bệnh âm, hàn, lạnh, sưng phù, tiêu chảy, tiểu đêm, tiểu nhiều…

Thêm vào môi trường thời tiết lạnh thuộc âm, ăn thức ăn nhiều âm, kém hoạt động là không sinh dương … đó là những nguyên nhân gây ra bệnh đau nhức phong thấp.

Thầy thuốc phong thấp sẽ cho dùng những thuốc tăng dương sinh nhiệt, thông hoạt huyết cho chạy mạnh, nhịp tim tăng, người ấm, hết những bệnh tiêu chảy, tiểu đêm, tiểu nhiều … uống đến khi hết bệnh đau nhức phong thấp, từ âm lên 0, uống tiếp tục từ 0 lên dương càng ngày càng tăng, bệnh cao áp huyết, nóng nảy, táo bón lại phát sinh.

Ở trên là thí dụ hai bệnh cùng một lúc chữa theo thời gian riêng rẽ tạo thành chu kỳ luẩn quẩn, hết bệnh này xong trở lại bệnh kia, tái đi tái lại mỗi năm, và bác sĩ thấy không kết qủa, cả 2 sẽ cho tăng liều, cơ thể không hấp thụ chuyển hoá kịp sẽ sinh biến chứng sang bệnh mới khác.

Thầy thuốc đông y không chữa riêng rẽ, mà chữa vào tổng thể, điều chỉnh khí huyết vừa lưu thông mạnh làm giảm đau nhức phong thấp, vừa dùng thuốc có tinh-khí-vị làm hạ áp lực khí huyết xung tâm, điều chỗ dư bù chỗ thiếu, và chỉ cho bệnh nhân cách ăn uống tập luyện cho khí huyết trong người lúc nào cũng giữ được quân bình âm duơng.

Còn nếu theo tây y thì nên ưu tiên chữa 1 bệnh nào quan trọng trước như bệnh tim mạch và áp huyết. Và để đề phòng khi tim mạch và áp huyết làm mất dương xuống âm nhiều qúa sẽ bắt đầu có bệnh đau nhức phong thấp thì chữa bằng phương pháp ăn uống, như Ý dĩ phục linh chữa phong thấp rất hay, một tuần ăn 3 lần, tâp luyện thể dục thể thao hay tập thể dục khí công đều đặn mỗi ngày sẽ không bao giờ bị bệnh đau nhức phong thấp cả, nếu siêng năng tập đủ 40 bài tập thể dục khí công, thì các bệnh tật được tiêu trừ mà không cần dùng thuốc. Bệnh đau đầu gối chú trọng đến bài tập dậm chân hát one,two, three... và bài dịch cân kinh 4 nhịp.

Muốn tập thể dục khí công, xin vui lòng download video khí công trên yahoo video, đánh chữ khicongydaoddn, click search, nó sẽ hiện ra nhiều clip bài tập thể dục khí công tự chữa bệnh để mọi người tập theo.

Riêng bệnh đau sưng đầu gối bên trái đôi khi do nguyên nhân uống nhiều nước một lần ½ lít cũng có triệu chứng này, và biến chứng làm nhu động ruột mất lực co bóp để đẩy phân ra ngoài tạo ra tình trạng bón giả, nếu không biết lại lạm dùng thuốc xổ một thời gian dài làm hỏng ruột sẽ sinh ra ung thư ruột phải cắt bỏ oan uổng.

Chúc ba cháu tập luyện thể dục khí công có kết quả tiêu hết mọi bệnh tật.

Read More

CCĐY 1 – DƯỚI MẮT KHOA HỌC TẬP THỞ KHÍ CÔNG CÓ LỢI HAY KHÔNG?

A. NGUYÊN TẮC TP THỞ BẰNG KHÍ CÔNG :

Tập thở bằng khí công là điều chỉnh lại nhịp thở chậm, nhẹ, sâu, lâu, đều một cách tự nhiên, để thúc đẩy khí huyết tuần hoàn đều đặn, liên tục, lưu thông khắp cơ thể, sức khỏe sẽ được cải thiện, phục hồi nhanh chóng. Theo quan niệm của khí công, các bệnh sở dĩ có là do tắc tuần hoàn khí, tắc tuần hoàn huyết, tắc tuần hoàn tiêu hóa, bài tiết, hô hấp và tắc tuần hoàn do biến đổi tâm lý thần kinh..

1.Tắc tuần hoàn khí :

Như các bệnh khó thở, đau nhức phong thấp, đau bụng, đau lưng, đau đầu, đau tứ chi, té ngã, va chạm, sưng phù, nay đau chỗ này, mai đau chỗ khác, khi đau khi không, chụp hình xét nghiệm không bị tổn thương thực thể. Chỗ đau do khí tắc đè ấn vào cảm thấy dễ chịu là chỗ đó thiếu khí không thông, đè vào đau nhiều hơn là chỗ đó thừa khí tụ nghẽn lại. Như bệnh áp huyết thường bị tắc khí ở sau gáy tụ lại thành một khối thịt làm huyết lên đầu không xuống được sinh nhức đầu hoặc huyết xuống được mà lên đầu không được sinh chóng mặt.

2.Tắc tuần hoàn huyết :

Huyết tắc do tổn thương thực thể, chụp hình thấy được như đứt mạch, gẫy xương, dập bầm tím, máu vón cục, bệnh tắc khí để lâu làm máu tụ lại một chỗ không thông lâu dần hóa vôi, xương, khớp, gân, sụn mất nuôi dưỡng bị khô cứng làm đau, hoặc trong tạng phủ bị tổn thương, viêm nhiễm, ấn đè vào thấy đau ở một chỗ cố định.

3.Tắc tuần hoàn tiêu hóa , bài tiết, hô hấp :

Không phải là tắc tuần hoàn khí, mà không đủ khí co bóp bao tử và nhu động ruột để tiêu hóa thức ăn. Khi thức ăn bị giữ lại lâu trong bao tử và đường ruột sẽ gây bệnh, ăn thêm sẽ mệt tim, khó thở, bị ói, bao tử không chuyển hóa thức ăn sẽ lên men, làm đầy, nóng, ợ chua, loét, lên cơn sốt, tắc hạ vị, đường ruột nếu còn mạnh sẽ tống phân ra thành bệnh tiêu chảy, hoặc phân khô có lẫn máu, hoặc đường ruột yếu không đủ sức đẩy phân ra sinh táo bón ..Thức ăn chứa lâu trong bao tử sẽ trở thành độc tố phát sinh ra vi trùng và độc tố thấm vào máu hại thần kinh.

4.Tắc tuần hoàn tâm lý thần kinh :

Do quan niệm sai lầm, cố chấp, bảo thủ, chỉ tin vào phương pháp này mà không tin vào phương pháp kia, khi bị bệnh chỉ tin vào xét nghiệm y khoa, cho nên có loại bệnh do vi trùng, nếu tây y đã có kinh nghiệm chữa trị thì việc chữa trị rất dễ dàng, có những vi trùng lạ hoặc những loại bệnh không do vi trùng làm ra thì tây y chưa có kinh nghiệm đành bó tay. Thực ra khi chưa có phương pháp của tây y hiện đại, còn rất nhiều các phương pháp cổ điển khác gọi là y học cổ truyền của nhiều nước khác nhau đã từng áp dụng trong điều trị cho dân chúng, mỗi quốc gia đã tích lũy được những kinh nghiệm qúy báu hàng thế kỷ mà đối với tây y vẫn ngần ngại chưa chấp nhận, vì không hệ thống hóa cho logique được.

Thí dụ bệnh kẹt khớp ngón tay 3-4 gấp vào được ,mở ra không được, phương pháp đông y chịu thua, phương pháp tây y phải mổ, nhưng phương pháp cổ truyền của dân tộc Lyban dùng qủa cầu gai sắt lớn hơn hòn bi, kẹp vào giữa hai lòng bàn tay lăn trong nửa giờ ở trong xô nước nóng, (hay nước nóng trong lavabo), sau đó ngón tay cử động dễ dàng như bình thuờng không phải mổ.

Thí dụ khi bị muỗi lạ cắn lên cơn sốt, kinh nghiệm dân gian cho uống nước nhiều để giải nhiệt, chúng ta gọi là các thầy mo, thầy nước lạnh. Thực ra nếu chịu khó dùng khoa học giải thích, chúng ta thấy hợp lý, nếu chúng ta xét nghiệm máu thì có thể là vi trùng sốt rét, có thể là vi trùng sốt xuất huyết, nếu đã có vi trùng mà chưa kịp tìm ra thuốc đúng để chữa, vi trùng sẽ sinh sôi nẩy nở theo cấp số nhân, số lượng vi trùng trong máu qúa nhiều, lên não làm hại thần kinh khiến sốt mê man. Bệnh nhân cần phải cho uống nước nhiều làm loãng máu, vừa giải được nhiệt theo ra bằng đường mồ hôi vừa đi tiểu được nhiều, loại được một phần vi trùng theo đường tiểu ra ngoài. Mỗi ngày uống khoảng 3-4 lít nước chia làm nhiều lần trong thời gian một tuần, sốt sẽ giảm, vi trùng ít đi dần cho tới hết và sức đề kháng của cơ thể được phục hồi giúp bệnh mau lành .Áp dụng phương pháp này đối với tây y cũng không phải là không hợp lý.

Theo thống kê, tây y có thể cho biết một căn bệnh ung thư khi hết cách chữa, bệnh nhân còn có thể sống được bao nhiêu thời gian, đó là lý thuyết, rất chính xác khi bệnh nhân có tinh thần thụ động chán nản không còn hy vọng, vì họ tin rằng khoa học đã bó tay. Tinh thần bệnh nhân bi quan sợ sệt, khi nghe bản án tử hình do kết luận của y khoa hiện đại, có thể bệnh nhân sẽ chết sớm hơn dự định vì lo sợ làm tắc khí huyết tuần hoàn trong cơ thể nhanh hơn. Còn đối với những người có tinh thần lạc quan, bình thản, coi thường sống chết, trước khi chết họ nghĩ là phải làm cái gì đó có ích lợi cho người khác như viết lại những gì kinh nghiệm của họ trong đường đời, hay dùng tiền của khi chết không đem theo được giúp kẻ cô nhi, người tàn tật, họ có ý sinh tồn mạnh, họ nghĩ rằng thời gian sống không còn bao nhiêu, họ phải duy trì mạng sống để tiếp tục làm những điều có ích, nên bất cứ một phương pháp chữa bệnh nào khác như châm cứu, thuốc cây cỏ, khí công, tu thiền, võ thuật, sinh hoạt từ thiện, hoặc tịnh tâm dưỡng thần nơi vùng núi vùng biển, đi du lịch khắp nơi cho thỏa chí trước khi chết, họ ăn kiêng, ăn các món ăn theo phương pháp macrobiotique, hay bất kỳ một phương pháp nào để dành lại mạng sống, và những phương pháp ấy không thuộc lãnh vực tây y, nếu khỏi bệnh, tây y cho là một phép lạ.

Theo tây y, tất cả phải xét nghiệm bằng máy móc, dụng cụ cân đo đong đếm chính xác, nhưng nếu ảnh hưởng tâm lý thần kinh tác động làm thay đổi tuần hoàn khí huyết cũng làm thay đổi được số liệu đã xét nghiệm của tây y. Như vậy thần kinh làm chủ cơ thể vật chất chứ không lệ thuộc vào cơ thể vật chất. Một thí dụ dễ hiểu, một căn nhà ọp ẹp cũ nát, các kỹ sư, kiến trúc sư dùng máy móc đo sức bền vật liệu của nền, móng, tường, vách tìm ra số liệu an toàn và tuổi thọ căn nhà qúa tệ, chỉ hai năm sau là xập đổ.Tất cả mọi máy móc khoa học thử đều đúng giống nhau, không ai nói sai khác được. Đó là cơ sở vật chất tồi tệ, điều đó đúng, nếu căn nhà vô chủ, giống như con người bị hỏng bộ thần kinh chỉ huy sự sống của cơ thể. Còn khi căn nhà có chủ, khoa học nói vậy biết vậy, cứ hư đâu, chủ nhà sửa đến đó để ở tạm, bao giờ xập sẽ hay không cần phải lo lắng bi quan, hư vách sửa vách, hư cửa sửa cửa, hư tường thì chống, hư cột nhà thì thay, nền nhà nhiều hang lỗ thì đổ thêm đất đắp nền.. cứ thế căn nhà hiện nay vẫn còn tồn tại đến đời con cháu qua được mấy chục năm, thậm chí cả trăm năm. Cho nên các bệnh nan y như ung thư cũng thế, đông y tuy không có phương pháp chữa ung thư, nhưng khi khám mạch chẩn bệnh, thấy gan yếu chữa gan, mai thấy phổi yếu chữa phổi, mốt thấy tim yếu chữa tim, thấy thiếu máu bổ máu, thiếu khí thì bổ khí, mất ngủ làm cho ngủ, ăn không được làm cho ăn được..tất cả các điều chỉnh đó giống như căn nhà trên cứ áp dụng phương pháp sửa chữa nhỏ hết cái này đến cái khác, tuổi thọ sẽ được kéo dài hơn nhiều nếu tâm lý thần kinh không bị bi quan chán đời .

Bởi lối xét nghiệm chính xác của tây y mà không tìm ra được thuốc chữa, vô tình đã làm cho con người hoảng sợ trước hai căn bệnh nan y mà tây y bó tay là ung thư và sida. Nhưng thực ra khi bệnh nhân chết không phải do bệnh chính, mà do thuốc hành hạ đau đớn, ngộp thở mà chết. Có một căn bệnh rõ ràng là ung thư mà không chữa cũng chẳng sao, như ở Việt nam có những người ăn xin đeo cả trăm bướu lớn nhỏ lủng lẳng trên mặt trên mình mẩy, chân tay, không thể nào cắt mổ tất cả được, cắt rồi, nó mọc lại không có cách chữa, nhưng bệnh nhân không bị hù dọa là ung thư, cứ tỉnh bơ sống ăn xin qua ngày, không lo ung thư, có chí sinh tồn, chỉ lo sợ chết vì đói , việc xin ăn để sống là quan trọng hàng đầu trong cuộc sống của họ.

Ngay cả bệnh cùi cũng là một dạng của ung thư, nhưng không cho là ung thư nguy hiểm thì tâm lý thần kinh của bệnh nhân vẫn bình thản không sợ sệt. Còn các vị nữ tu sĩ săn sóc những bệnh nhân cùi không sợ và cũng không bị lây nhiễm bệnh vì có tâm lý thần kinh mạnh, có đức tin, họ vui vẻ chấp nhận con người ai mà không chết, khi Chúa gọi là về, theo Phật giáo tiểu thừa thì nghiệp đến phải chấp nhận trả vui vẻ, theo Phật giáo đại thừa thì chủ động tích cực, phải tự cải nghiệp thành tốt, khi nghiệp đến phải trả sẽ được nhẹ hơn. Thí dụ như lừa đảo để cướp giựt tài sản của một người bạn để làm giầu, người bị lưà thù hận tìm họ để giết, còn họ với tâm tham, lo làm giầu đâu có nghĩ đến nỗi khổ cực của người bị họ hại, một thời gian sau họ dư dả tiền bạc có danh giá địa vị mới biết ăn năn, muốn tìm kiếm lại bạn để trả nợ và đền bù lại những thiệt thòi mà bạn mình phải gánh chịu. Ngược lại, kẻ bị lừa đâu có biết họ đã ăn năn, cứ xem họ là kẻ thù không đội trời chung chỉ muốn tìm họ đâm cho chết mới hả dạ. Họ có hai thái độ khi bất ngờ gặp lại nhau .Nếu bỏ chạy là không vui vẻ chấp nhận trả nghiệp, nghiệp vẫn đến ,họ bị kẻ thù tức giận đâm chết. Còn một thái độ vui vẻ chấp nhận trả nghiệp, họ chủ động đến gặp bạn xin tha lỗi vì lòng tham mù quáng, nói cho tất cả mọi người xung quanh biết lỗi lầm của mình, và nhờ có số tiền của bạn mới dựng nên cơ nghiệp ngày nay, nay xin giao lại tất cả trả cho bạn để chuộc lỗi. Như vậy nghiệp vẫn đến nhưng không đến nỗi bị bạn đâm chết, cho nên Phật giáo đại thừa dạy sám hối, làm điều lành, có lòng vị tha giúp đỡ kẻ nghèo vật chất lẫn tinh thần không mong cầu báo đáp, lấy đó làm niềm vui tinh thần thì thân dù có bệnh nan y bất trị nhưng tâm lý thần kinh không xao động vẫn có thể kéo dài tuổi thọ.

Theo lý thuyết của khí công, khi cơ thể có bệnh như đau đớn, sốt mệt, suy nhược, tâm lý thay đổi, vui buồn, sợ sệt, lo lắng.. đều làm thay đổi nhịp thở sinh học khác với bình thường. Trung bình một người khỏe mạnh, có hơi thở đều đặn tạo nhịp thở sinh học là 18 hơi (thở vào thở ra) trong một phút. Khi thở ngắn hơn, dồn dập, nhịp thở sinh học sẽ trên 18 hơi, như 20, 30, 40 hơi trong bệnh suyễn, càng nhiều càng đứt hơi đến chết.

Dùng khí công tự chữa bệnh là luyện cách tập thở với nhịp sinh học dưới 18 hơi một phút, trung bình khoảng 6-12 hơi một phút được chậm, nhẹ, sâu, lâu, đều, tự nhiên không gò bó không ngộp thở. Thở tự nhiên mà chậm phải có sự hợp tác của ý, dùng tinh thần và tâm trí để theo dõi hơi thở gọi là khí công thiền.

B. Lợi ích của TP THỞ khí công (KHÍ CÔNG thiền ):

Theo tài liệu của Bác sĩ Nguyễn tối Thiện thuộc nhóm Nghiên cứu và thực hành thiền quán ở Pháp thì thiền làm lắng đọng vọng tưởng, vọng niệm, thành kiến, ký ức, lo buồn sợ hãi, và tỉnh thức sáng suốt để ghi nhận trực tiếp tất cả những nguồn rung động bên ngoài và bên trong cơ thể. Tâm thức lúc đó đạt tới một trạng thái tự do tuyệt đối không bị vẩn đục bởi phiền não, chấp ngã, chúng ta sẽ khám phá ra được một thế giới nội tại bình an.

Khoa học đã ghi nhận được sự thay đổi của sóng não trong 4 giai đoạn :

-Giai đoạn sóng Beta 13-20 hertz khi làm việc.

-Giai đoạn sóng Alpha 8-13 hertz khi nghỉ ngơi.

-Giai đoạn sóng Theta 4-7 hertz khi thiền còn tỉnh thức, nó cũng là giai đoạn buồn ngủ, hôn trầm.

-Giai đoạn sóng Delta 1-3 hertz là giai đoạn ngủ sâu.

Quan sát hơi thở một bệnh nhân nằm thở bình thường qua nhiều giai đoạn :

a-Giai đoạn chưa tập trung ý vào hơi thở ( sóng beta ):

Hơi thở không đều, ngắn hơi, nhanh, đứt đoạn, đếm được 20-30 hơi trong 1 phút.

b-Giai đoạn thở đều (sóng alpha ):

Hơi thở đều, ngắn, nhẹ, nhanh, cũng nhịp 20-30 hơi trong 1 phút.

c-Giai đoạn tập thở có ý thức, có kiểm soát ( sóng theta ):

Khi mới tập, hơi thở chưa đều nhưng thở sâu và lâu hơn, số lần thở giảm đi trong nửa giờ đầu. Nếu còn tiếp tục tỉnh táo tập thở, số lần thở sẽ giảm nữa, khoảng 12 -16 hơi. Ngược lại, nếu rơi vào hôn trầm ( mê đi mà không hay biết )sẽ đi vào giấc ngủ ngon. Sóng Theta xuất hiện trên điện não đồ, tâm được bình an, thần kinh và gân cơ thư giãn, giảm co thắt đau nhức. Nếu xét nghiệm hàm lượng lactose trong máu khi ngủ sẽ giảm so với lúc thần kinh bị căng thẳng, khi xáo trộn tâm lý, hàm lượng lactose trong máu tăng cao.

d-Trong trạng thái còn tỉnh thức để theo dõi hơi thở, sẽ trở thành thói quen đều đặn, sẽ tạo được nhịp thở sinh học 6-8 hơi trong 1 phút, giúp khí huyết lưu thông đều, sự tiêu thụ năng lượng sẽ giảm, không bị tiêu hao lãng phí, sự biến dưỡng căn bản (métabolisme basal ) xuống mức tối thiểu, ăn ngủ ít mà vẫn khỏe như các vị thiền sư

e-Giai đoạn ngủ :

Sau khi tỉnh thức để theo dõi hơi thở ở giai đoạn sóng Theta, có được nhịp thở sinh học 6-8 hơi trong một phút thì khi ngủ nhịp thở sinh học 6-8 hơi vẫn được duy trì. Đây chính là giai đoạn chữa bệnh bằng giấc ngủ có ý thức.

Các nhà Yoga khi ngủ, chúng ta thấy hình như không thở, vì hơi thở rất nhẹ, hơi vào như sợi chỉ chứng tỏ số lượng oxy vào ít, nhưng thiền, sự tiêu thụ oxy trong cơ thể còn ít hơn so với khi ngủ, cho nên 1 giờ thiền có gía trị bằng 2-3 giờ ngủ, và chúng ta cũng có thể giải thích tại sao các nhà yoga có thể giam mình trong một hòm kín mà không chết ngộp. Điều đó chứng tỏ tập khí công thiền làm cho nhịp tim chậm lại, làm giảm trương lực cơ và làm giảm áp huyết.

Những kết qủa nghiên cứu của Đại học Harvard, Tokyo, và ở Viện Khí công trị liệu Trung quốc, cho thấy khí công có thể chữa được các bệnh sau đây :

1. Bệnh tim mạch :

Như áp huyết cao, thất nhịp tim do thần kinh ( arythmie cardiaque d’origine nerveuse ),phong thấp các van tim ( rhumatisme valvulaire cardiaque), bệnh huyết kết tĩnh mạch (thrombophlébite ).

2. Bệnh thần kinh :

Như thần kinh suy nhược (dépression nerveuse ), bệnh tâm thể (maladie psycho-somatique ),loạn trương lực thần kinh thực vật (dystonie neuro-végétative ), tạng co giật (spamophilie ),chứng ưu tư (anxiété ),loạn tâm thần ám ảnh (névrose obsessionnelle ), đau nhức do thần kinh ( douleurs nerveuses ou d’origine mal définie ), đau dây thần kinh ( névralgie faciale, intercostale ),viêm dây thần kinh ( névrite, polynévrite ).

3. Bệnh tiêu hóa :

Như ăn uống không tiêu, no hơi sình bụng, ợ chua, bón kinh niên, loét bao tử và ruột non ( ulcère gastro duodénal ) , viêm bao tử kinh niên ( gastrite chronique ), viêm ruột mãn tính ( entéro colite chronique ), viêm gan mãn tính ( cirrhose du foie), viêm túi mật ( cholécystite).

4. Bệnh hô hấp :

Như viêm phế quản kinh niên, suyễn, thở khó.

5. Bệnh phong thấp :

Đau nhức xương khớp, bắp thịt, gân cốt.

6. Bệnh bần huyết, thiếu máu ( anémie ).

7. Bệnh sinh dục, tiết niệu :

Như bất lực (impuissance), xuất tinh sớm (éjaculationprécoce), di tinh(spermatorré), đau bụng huyết ( dysménorrhée )

8. Bệnh giác quan :

Như viêm võng mạc ( rétinite ), teo thần kinh thị giác (atrophie optique ), mất thể thăng bằng ( trouble d’équilibre ), suy thị giác và thính giác không do chấn thương.

9. Bệnh da kinh niên ( psoriasis, eczéma..)

10.Tăng sức đề kháng của cơ thể, hệ miễn nhiễm, hệ nội tiết chống lại sự xâm nhập của vi trùng và sự khắc nghiệt của thời tiết, môi trường.

11.Tuổi thọ được kéo dài :

Người bình thường cho đến già vẫn thở 18 hơi trong một phút sẽ sống thọ 100 năm, con rùa thở 2 hơi trong một phút, tuổi thọ của nó được 300 năm. Khi tập thở khí công, hơi thở càng chậm thì tuổi thọ càng tăng, hơi thở càng nhanh thì tuổi thọ càng giảm.

12. Theo nhận xét của Bác sĩ Ngô gia Hy, trước khi tập

khí công, cho các học viên thử máu để đếm số lượng hồng cầu, bạch cầu, sau khi tập một tuần, rồi hai tuần, ba tuần, rồi tập luyện tiếp tục đều đặn. Số lượng hồng cầu tuần đầu tăng vọt, kết qủa thấy tập thở khí công rất có lợi, tuần hai, hồng cầu giảm xuống một ít, tuần ba giảm một ít nữa xuống đến mức ổn định kéo dài, hơn số lượng ban đầu 5-10%, số lượng bạch cầu cao nếu cơ thể có bệnh được giảm xuống, hoặc số lượng bạch cầu thấp sẽ được tăng lên, cuối cùng bạch cầu được ổn định trong tiêu chuẩn.

C. CÁCH TẬP LUYỆN HƠI THỞ THEO KHÍ CÔNG

1. Chuẩn bị :

Trước khi đi ngủ, không uống nước, đi tiêu, tiểu và tắm rửa với nước ấm nóng cho người khỏe khoắn, mặc quần áo rộng. Nằm ngửa thẳng người, đầu không kê gối, chụm hai gót chân, cuốn lưỡi lên vòm họng trên, ngậm miệng bình thường không để người ngoài thấy biết được bộ dạng của mình đang cuốn lưỡi ngậm miệng, mặt bình thản. Tập thở ra hít vào đều bằng mũi để nối mạch âm dương Nhâm-Đốc, trong khi tập nước miếng trào ra thì nuốt vào , không bị khô cổ, miệng có nước miếng không bị hỏa dồn lên làm đau khô cổ họng và làm tẩu hỏa nhập ma ( dư hỏa ở bộ đầu làm hại thần kinh thành điên cuồng ).

Đặt bàn tay lên hai điểm quan trọng là đan điền thần, (điểm quy tụ hỏa khí, giữa mỏm xương ức ), và đan điền tinh (dưới rốn chừng 3-5 cm). Đàn bà đặt bàn tay phải lên đan điền thần, đàn ông đặt bàn tay trái lên đan điền thần, tay kia đặt lên đan điền tinh.

2. Tập nghe hơi thở :

Hai mắt nhắm lại, tai chú ý lắng nghe nơi bụng dưới rốn chỗ đặt bàn tay nơi đan điền tinh. Theo dõi trong thầm lặng, hơi thở bình thường tự nhiên, không cố ý hít vào thở ra, chỉ theo dõi hơi thở tự nhiên nó vào nó ra làm sao. Khi thở vào chúng ta cảm thấy bụng phồng lên nhẹ, trong đầu ghi nhận là phồng, khi hơi thở ra ta cảm thấy bụng xẹp xuống, trong đầu ghi nhận là xẹp. Cứ để cho tâm tĩnh lặng theo dõi phồng xẹp chừng 5-10 phút cho quen và cảm nhận được hơi thở vào ra phồng xẹp rõ ràng, sau đó chuyển sang giai đoạn kiểm soát hơi thở.

3. Kiểm soát hơi thở :

Nhắm mắt, cuốn lưỡi, ngậm miệng, hít thở bằng mũi tự nhiên. Bắt đầu quan sát và kiểm soát hơi thở bằng cách đếm thầm trong đầu. Khi bụng phình lên, ta ghi nhận trong đầu là phồng, khi bụng xẹp xuống ta ghi nhận trong đầu là xẹp rồi đếm 1 lần, tiếp tục phồng-xẹp 2, phồng-xẹp 3, phồng-xẹp 4, phồng-xẹp 5, phồng-xẹp 6, phồng-xẹp 7, phồng-xẹp 8, phồng-xẹp 9 ,phồng-xẹp 10. Rồi trở laị phồng-xẹp 1 đến phồng-xẹp 10 nhiều lần.

4.Tập thở khí công thành thói quen hằng ngày :

Nếu chúng ta tập cho hơi thở tạo ra được nhịp thở sinh học đều lúc thức làm việc cũng như lúc ngủ, lúc nào cũng chậm, nhẹ, sâu, lâu, đều, tự nhiên không gò bó ngộp thở, giúp cho tuần hoàn khí huyết lưu thông đầy đủ sẽ tránh được nhiều bệnh, và khi có bệnh cơ thể tự chữa sẽ mau hồi phục. Muốn được như thế, chúng ta có hai cách áp dụng như sau:

a-Cách thứ nhất :Tạo ra nhịp thở sinh học 5-5. ( một phút thở 6 hơi ).

Dùng ý của hai câu sau để theo dõi hơi thở:

Thở, vào, tâm, tĩnh, lặng.

Thở, ra, miệng, mỉm, cười

(J’inspire mental calm. J’expire je souris)

(Breath in mind’s calming, breath out, I’m smiling)

Hơi thở tự nhiên, nhưng khi thở vào, trong đầu nghĩ thầm theo câu thở, vào, tâm, tĩnh, lặng , khi bắt đầu thở ra, trong đầu thầm nghĩ câu thở, ra, miệng, mỉm, cười. Tập cho câu phải trùng đúng với hơi thở không nhanh qúa, không chậm qúa. Khi tập được trùng với nhau, thì nhìn đồng hồ sao cho mỗi chữ cách nhau 1 giây cho thành thói quen 5 chữ mất 5 giây, như vậy, nhịp thở sinh học thở vào 5 giây, thở ra ra 5 giây, liên tục, đều đặn, không ngừng nghỉ, một cách tự nhiên trong lúc làm việc cũng như lúc ngủ.

b-Cách thứ hai : Thở ra nhiều hơn thở vào ,tạo ra nhịp thở sinh học 7-3.( một phút thở 6 hơi ).

Dùng một bài hát 7 nốt nhạc đều, không cao qúa, không thấp qúa, người không biết hát cũng có thể hát được, chẳng hạn như 7 nốt la như sau :

Câu 1 : La, la, là, la, lá, la, là

Câu 2 : La, la, là, la, lá, la, là

clip_image002

La la là la lá la là La la là la lá la là

Cuốn lưỡi lên vòm họng trên, ngậm miệng, hát bằng mũi câu 1 (ư,ư,ừ,ư,ứ,ư,ừ ) khi hát tức là đang thở ra mỗi nốt là 1 giây, 7 nốt mất 7 giây, sau đó hít vào bằng mũi để lấy thêm hơi chuẩn bị hát câu 2, thời gian hít vào khoảng 3 giây, hít vào xong,( lúc nào cũng ngậm miệng cuốn lưỡi) hát tiếp câu 2 (ư,ư,ừ,ư,ứ,ư,ừ ). Tăp thở bằng cách hát bằng mũi liên tục, đều đặn, chậm, nhẹ, nếu còn trong tình trạng tỉnh thức kiểm soát hơi thở , đó là lúc đang chữa bệnh giúp khí huyết lưu thông khắp cơ thể, tăng oxy cho huyết và não bộ, thần kinh gân cơ được thư giãn hoàn toàn. Nếu mất tỉnh thức, rơi vào hôn trầm buồn ngủ thì tiếng hát từ từ nhỏ dần ,quên hát, thần kinh hoàn toàn thư giãn đi vào giấc ngủ sâu, nhưng nhịp thở sinh học vẫn đều 6 hơi trong một phút .

5-KẾT QỦA :

Chúng ta đừng chán nản, đừng xao nhãng để tâm trí ra bên ngoài bụng ,như tự nhiên ý nghĩ đến chuyện khác, nghĩ đến tiếng động ồn ào bên ngoài, phải tập trung vào bụng khi phồng-xẹp, cho dù có phải đếm thầm đến mấy ngàn lần, vì càng đếm nhiều thì càng tự chữa được bệnh mau khỏi. Chúng ta hãy phân tích kết qủa hai trường hợp sẽ xẩy ra trong lúc tập :

a.Nếu tiếp tục tỉnh thức đưa thần kinh vào trạng thái thư giãn hoàn toàn, cơ thể cảm thấy nhẹ, như mình đang nằm trên một cái giường bằng phao trên mặt biển, trôi nhẹ, êm đềm, trên mặt nước không có sóng, mắt nhìn trời trong xanh ,sáng sủa, quang đãng không gợn mây, mình còn biết mình đang thở phồng-xẹp rất nhẹ ,quên đếm, rơi vào trạng thái quên thở mà vẫn cảm giác động mạch bụng vẫn đập lớn và đều đặn chậm, danh từ chuyên môn gọi là thai tức ( như bào thai trong bụng mẹ thở bằng nhịp đập mạch máu của người mẹ truyền qua rốn nhau, mà thai nhi không cần phải hít oxy bằng mũi ).Tập được ở trạng thái này quen, sẽ không còn nghe những tiếng động chung quanh, quên cả thời gian, không gian, danh từ chuyên môn của thiền gọi là nhập định ,cho nên các vị thiền sư ngồi thiền nhập định không hẳn là cần phải nằm ngủ mà vẫn khỏe mạnh, không mất ngủ, vì 1 giờ thiền tỉnh thức tương đương với 2-3 giờ ngủ bình thường, nếu tiếp tục tập luyện để nhập định dễ dàng, nhanh, sẽ đạt được nhập đại định sang một cảnh giới khác, tinh thần trở nên minh mẫn, trí nhớ dai, thông minh hơn, mặt sáng sủa, hồng hào khỏe mạnh và trẻ trung hơn xưa.

b.Nếu đi vào hôn trầm, do tập chưa quen, hoặc cơ thể bị bệnh, thần kinh đòi hỏi phải được thư giãn nghỉ ngơi, lúc đó mặc dù mất kiểm soát phồng-xẹp, nhưng nhịp thở sinh học vẫn được duy trì, giống như khi đưa võng dỗ cho một đứa trẻ ngủ bằng điệu hát ru, đứa trẻ sẽ thở theo nhịp sinh học tạo bởi hai yếu tố võng đu đưa và lời ru, khi nó ngủ, nó vẫn trong trạng thái bồng bềnh của của võng và âm vang của lời ru, mặc dù lúc đó võng và lời ru ngừng hẳn. Ở tình trạng này, tất cả mọi xáo trộn của cơ thể do bệnh, hay do thuốc kích thích làm xáo trộn thần kinh, như quá hưng phấn, qúa ức chế trầm cảm,đều trở lại bình thường không dương không âm, thần kinh tự điều chỉnh để chữa bệnh. Có lợi làm giảm đau đớn thấy rõ nhất trong các bệnh ung thư, đau nhức do mổ xẻ hoặc đau nhức phong thấp.

Read More